Một số giải pháp góp phần đưa Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học theo Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị

Nguyễn Thanh Sang
19/06/2025

Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/1/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng; bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế, bất cập.

Để phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập trên nhằm tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thích ứng với Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đưa giáo dục và đào tạo Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực Châu Á vào năm 2030 và đạt trình độ tiên tiến của thế giới vào năm 2045, Bộ Chính trị thống nhất ban hành Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" với 08 nhiệm vụ cần tập trung thực hiện trong thời gian tới. Trong đó có nhiệm vụ “Tập trung nâng cao năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học". Đây là một mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách, đột phá nhưng cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện ở nước ta.
 

Để thực hiện tốt việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học theo tinh thần Kết luận số 91-KL/TW, tôi xin đề xuất một số giải pháp thực hiện như sau:

 

Một là, phải thực hiện đúng quy luật phát triển về năng lực ngôn ngữ

 

Quy luật phát triển về năng lực ngôn ngữ của con người được bắt đầu từ nghe, nói rồi đến đọc, viết. Cụ thể: khi một em bé mới chào đời, để giáo tiếp được với gia đình và xã hội bằng tiếng Việt thì cách thức đầu tiên của bé là lắng nghe từ cha mẹ, anh chị, ông bà trong gia đình, sau đó quan sát cử chỉ, hành động để hiểu; khi đến một giai đoạn nhất định em bé sẽ bắt đầu bập bẹ và nói được; đến tuổi đi học bé bắt đầu cho đọc và viết; cuối cùng thầy, cô mới bắt đầu cho bé học ngữ pháp để nói đúng, đầy đủ ngữ pháp. Như vậy, người học ngoại ngữ bất kỳ tiếp theo cũng phải như thế. Đây chính là quy luật tự nhiên về phát triển ngôn ngữ của con người. Tuy nhiên, trong một thời gian dài khi thực hiện công tác giảng dạy ngoại ngữ (trong đó có tiếng Anh) trong hệ thống giáo dục giáo dục quốc dân ở nước ta từ trước đến nay lại thực hiện dạy từ vựng (viết), đọc trước, dạy ngữ pháp rồi sau đó mới đến dạy nghe và nói. Như vậy, từ trước đến giờ chúng ta đã bỏ qua quy luật phát triển về năng lực ngôn ngữ của con người và dạy ngoại ngữ đi ngược lại với quy luật này nên đã dẫn đến tình trạng học sinh học tiếng Anh từ cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học… khi ra trường đa số không thể tự tin giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài. Do đó, để đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai thì giải pháp tiên quyết là phải thực hiện đúng quy luật phát triển về năng lực ngôn ngữ của con người.

 

Hai là, phải nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân

 

Phải đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy: Xây dựng chương trình tiếng Anh quốc gia thống nhất, bám sát các khung tham chiếu ngôn ngữ quốc tế uy tín như CEFR (Khung tham chiếu ngôn ngữ chung Châu Âu); Chương trình cần chú trọng phát triển toàn diện 04 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, với trọng tâm là khả năng giao tiếp thực tế. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, chuyển từ phương pháp truyền thống sang các phương pháp hiện đại, tương tác cao, khuyến khích học sinh chủ động khám phá và sử dụng tiếng Anh trong các tình huống thực tế; Ưu tiên các hoạt động nhóm, dự án, trò chơi ngôn ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin. Xem xét tăng số tiết học tiếng Anh ở tất cả các cấp học, đảm bảo đủ thời gian cho học sinh thực hành và phát triển kỹ năng. Chuyển từ đánh giá nặng về lý thuyết sang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ thực tế, thông qua các bài kiểm tra kỹ năng, thuyết trình, phỏng vấn và đánh giá sản phẩm học tập.

 

Phải nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên: Thực hiện chuẩn hóa trình độ giáo viên, đảm bảo tất cả giáo viên đáp ứng yêu cầu về kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng sử dụng tiếng Anh. Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ và chuyên sâu cho giáo viên, cập nhật kiến thức mới về ngôn ngữ, phương pháp giảng dạy và ứng dụng công nghệ; Khuyến khích giáo viên tham gia các chương trình trao đổi quốc tế để nâng cao trình độ. Có chính sách đãi ngộ xứng đáng để thu hút và giữ chân giáo viên tiếng Anh có năng lực, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa.

 

Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và học liệu: Đầu tư trang thiết bị dạy học tiên tiến, bao gồm phòng lab ngoại ngữ, máy chiếu, bảng tương tác và kết nối internet tốc độ cao. Xây dựng và cung cấp nguồn học liệu tiếng Anh phong phú, đa dạng về hình thức (sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo, phần mềm học tập, ứng dụng di động, tài liệu trực tuyến), phù hợp với các cấp độ và đối tượng học sinh khác nhau.

 

Ba là, phải mở rộng phạm vi sử dụng tiếng Anh trong đời sống xã hội

 

Khuyến khích sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp công cộng: Từng bước triển khai việc sử dụng song ngữ Việt - Anh trên các biển báo giao thông, biển chỉ dẫn công cộng, thông tin tại các địa điểm du lịch, sân bay, nhà ga, bệnh viện, trung tâm thương mại. Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ công (hành chính, du lịch, y tế, giao thông vận tải) có khả năng giao tiếp tiếng Anh cơ bản để phục vụ người nước ngoài. Khuyến khích các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, phát thanh, báo chí, trang thông tin điện tử) tăng cường nội dung tiếng Anh hoặc song ngữ.

 

Thúc đẩy sử dụng tiếng Anh trong môi trường làm việc: Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức đưa tiếng Anh trở thành một tiêu chí tuyển dụng và đánh giá nhân viên, đặc biệt trong các ngành nghề có yếu tố quốc tế cao. Hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo tiếng Anh tại nơi làm việc, đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ của nhân viên. Khuyến khích các hoạt động giao tiếp, trao đổi bằng tiếng Anh trong công việc, tạo điều kiện cho nhân viên thực hành và nâng cao kỹ năng.

 

Tăng cường hợp tác quốc tế: Tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên, giáo viên và người dân Việt Nam có cơ hội học tập, giao lưu và trải nghiệm môi trường tiếng Anh ở nước ngoài. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và chuyên gia quốc tế đến làm việc tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy việc sử dụng tiếng Anh trong các hoạt động kinh tế và khoa học công nghệ. Tham gia các dự án, chương trình hợp tác quốc tế về phát triển và nâng cao trình độ tiếng Anh.

 

Bốn là, phải nâng cao nhận thức và tạo động lực học tiếng Anh trong cộng đồng

 

Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức bằng các hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng về vai trò và lợi ích của tiếng Anh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trong học tập, công việc và cuộc sống. Khen thưởng, biểu dương những người có thành tích xuất sắc trong học tập và sử dụng tiếng Anh, tạo tấm gương, động lực cho cộng đồng.

 

Khuyến khích tự học và học suốt đời như tạo điều kiện để thành lập và phát triển các câu lạc bộ, diễn đàn tiếng Anh trong cộng đồng, tạo môi trường giao lưu và học hỏi lẫn nhau. Hỗ trợ phát triển và phổ biến các nguồn tài liệu tự học tiếng Anh miễn phí hoặc chi phí thấp (ứng dụng, trang web, khóa học trực tuyến). Tổ chức các cuộc thi và hoạt động liên quan đến tiếng Anh để người dân có cơ hội thể hiện khả năng tiếng Anh và nâng cao sự hứng thú.

 

Năm là, phải đảm bảo nguồn lực tài chính

 

Quan tâm bố trí đủ nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội hóa để đầu tư cho các hoạt động nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, mở rộng phạm vi sử dụng và nâng cao nhận thức cộng đồng…

 

Thiết nghĩ, việc quan tâm thực hiện tốt các giải pháp này sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, mở ra nhiều cơ hội học tập, làm việc và phát triển cho người dân Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đồng thời tăng cường vị thế và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.