Công tác phụ nữ - Một trụ cột quan trọng trong phát triển đất nước bền vững

Quế Nương
27/06/2025

Bước vào kỷ nguyên mới - nơi tri thức, công nghệ và hội nhập quốc tế ngày càng chi phối mạnh mẽ đời sống xã hội – phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng và vị thế ngày càng nổi bật. Họ không chỉ là người vun đắp mái ấm gia đình, mà còn hiện diện tích cực trên mọi mặt trận lao động, sáng tạo, quản lý và cống hiến. Đặc biệt, trong dòng chảy mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa, vai trò của phụ nữ càng trở nên thiết yếu, đòi hỏi phải có những chính sách nhất quán, lâu dài, có tầm nhìn chiến lược nhằm khơi dậy và phát huy hiệu quả tiềm năng to lớn này, góp phần đưa đất nước phát triển theo hướng công bằng, tiến bộ và bền vững.

Bước vào kỷ nguyên mới - nơi tri thức, công nghệ và hội nhập quốc tế ngày càng chi phối mạnh mẽ đời sống xã hội – phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng và vị thế ngày càng nổi bật. Họ không chỉ là người vun đắp mái ấm gia đình, mà còn hiện diện tích cực trên mọi mặt trận lao động, sáng tạo, quản lý và cống hiến. Đặc biệt, trong dòng chảy mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa, vai trò của phụ nữ càng trở nên thiết yếu, đòi hỏi phải có những chính sách nhất quán, lâu dài, có tầm nhìn chiến lược nhằm khơi dậy và phát huy hiệu quả tiềm năng to lớn này, góp phần đưa đất nước phát triển theo hướng công bằng, tiến bộ và bền vững.

Từ nhận thức đúng đắn đó, ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên mang tầm chiến lược về phụ nữ, thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng, nhìn nhận phụ nữ không chỉ ở vai trò xã hội - gia đình truyền thống mà còn là nhân tố trọng yếu để phát triển đất nước theo hướng bền vững và công bằng hơn về giới. Qua hơn 10 năm triển khai, nhiều địa phương đã ghi nhận kết quả rõ nét trong thực hiện nghị quyết, trong đó có tỉnh Vĩnh Long.

Ngay sau khi Nghị quyết 11-NQ/TW được ban hành, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã sớm cụ thể hóa bằng Chương trình hành động số 12-CTr/TU, đồng thời chỉ đạo tổ chức quán triệt sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Trong 10 năm qua, tỉnh đã tổ chức hơn 27.000 cuộc tuyên truyền, thu hút trên nửa triệu lượt người tham gia, phản ánh sự vào cuộc quyết liệt, toàn diện của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện chủ trương lớn của Đảng.

Điểm nhấn nổi bật nhất là nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò, vị thế phụ nữ đã được nâng lên rõ rệt. Các cấp ủy đã quan tâm nhiều hơn đến công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ nữ. Trong giai đoạn 2011–2015, có 20,69% cán bộ nữ được quy hoạch vào Ban Chấp hành Đảng bộ cấp tỉnh; cấp huyện là 32,91%. Nhiều cán bộ nữ trẻ có năng lực, được chuẩn hóa về trình độ, giữ các vị trí chủ chốt ở địa phương. Tính từ năm 2007 đến 2017, toàn tỉnh đã kết nạp được 20.582 đảng viên, trong đó có đến 8.002 đảng viên nữ – chiếm gần 39% tổng số kết nạp mới. Đây là minh chứng cụ thể cho sự trưởng thành về chất lượng và số lượng của đội ngũ phụ nữ trong hệ thống chính trị.

phunu.jpg

Ban chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long khóa XI nhiệm kỳ 2021–2026

Đặc biệt, bước sang nhiệm kỳ 2020–2025, công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nữ tại Vĩnh Long tiếp tục được quan tâm sâu sắc. Tỷ lệ nữ được quy hoạch vào cấp ủy cấp tỉnh đạt 29,6%, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tỉnh đạt 16,32% (tăng 4,56% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 14,37%, cấp xã đạt 23,78%. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 40%, HĐND cấp tỉnh đạt 28%, cấp huyện 19,31%, cấp xã 22,01%. Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo cấp trưởng, phó các ban ngành cấp tỉnh chiếm 16,25%. Đây là những chỉ dấu rõ rệt cho thấy vị thế, năng lực và sự tin tưởng đối với cán bộ nữ đang từng bước được khẳng định vững chắc.

Không dừng lại ở công tác cán bộ, tỉnh còn quan tâm toàn diện đến đời sống vật chất, tinh thần và sự phát triển của phụ nữ ở các tầng lớp. Thông qua các mô hình như “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Mái ấm tình thương”, tổ phụ nữ phát triển kinh tế, nhóm phụ nữ sinh kế…, hàng ngàn chị em đã vươn lên thoát nghèo, có việc làm, ổn định cuộc sống.

Cùng với đó, công tác đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ Hội cũng được thực hiện bài bản và đồng bộ. Trong 10 năm qua, hơn 13.000 lượt cán bộ Hội được tập huấn chuyên môn, 340 lượt cán bộ nữ được đào tạo chuẩn hóa chức danh. Đến nay, 100% cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, huyện và 107/107 chủ tịch hội LHPN cơ sở đạt chuẩn chức danh theo quy định; 100% chi hội trưởng được bồi dưỡng nghiệp vụ, đạt 100% nghị quyết đại hội. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp đã thể hiện rõ vai trò trung tâm, là lực lượng nòng cốt trong việc triển khai nghị quyết, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng gần dân, sát thực tiễn, linh hoạt, sáng tạo. Từ việc xây dựng mô hình chi hội theo lứa tuổi, nghề nghiệp, sở thích… đến các hình thức sinh hoạt tổ, nhóm, câu lạc bộ… tổ chức Hội đã trở thành “ngôi nhà chung” của phụ nữ, nơi lan tỏa niềm tin, sự gắn kết và tinh thần dấn thân của chị em.

Tỉnh Vĩnh Long cũng chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ nữ có trình độ chuyên môn cao. Hiện toàn tỉnh có 766 nữ thạc sĩ, tiến sĩ, nhà khoa học – chiếm 43,3% so với nam giới – đóng góp tích cực trong các lĩnh vực quản lý, nghiên cứu, giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ. Đồng thời, công tác luân chuyển, điều động cán bộ nữ cũng được triển khai nghiêm túc, đúng quy trình. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức luân chuyển từ cấp tỉnh về huyện 6 lượt cán bộ, trong đó có 1 nữ; cấp ủy cấp huyện thực hiện luân chuyển 247 lượt, nữ chiếm 17%. Đa số cán bộ nữ sau luân chuyển đều trưởng thành rõ rệt, phát huy được năng lực, sở trường, nhanh chóng tiếp cận nhiệm vụ mới, thể hiện tốt vai trò lãnh đạo, điều hành.

Đặc biệt, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh phát huy vai trò tham mưu cho cấp ủy, giới thiệu, tạo nguồn phát triển đảng viên nữ. Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2021–2026, đã bồi dưỡng, giới thiệu 1.222 cán bộ nữ, hội viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp; đến nay đã kết nạp được 1.101 chị.

Sự đồng hành của các chính sách đúng đắn từ Đảng, sự vào cuộc đồng bộ của hệ thống chính trị và tinh thần nỗ lực bền bỉ của chính phụ nữ đã tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ, khẳng định vai trò không thể thay thế của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững. Đây là cơ sở thực tiễn và lý luận quan trọng để tiếp tục hoạch định các chính sách lớn hơn, toàn diện hơn cho công tác phụ nữ trong giai đoạn mới – giai đoạn mà phụ nữ không chỉ là người hưởng thụ thụ động các chính sách, mà còn là chủ thể sáng tạo và kiến tạo nên những giá trị phát triển cho cộng đồng, cho quê hương và cho tương lai đất nước.

Song song với thành tựu, cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng công tác phụ nữ vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Ở một số nơi, việc triển khai nghị quyết vẫn mang tính hình thức; vai trò tham mưu của tổ chức Hội chưa thực sự quyết liệt; công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết chưa đều. Định kiến giới vẫn tồn tại dai dẳng ở nông thôn và ngay trong một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý. Một bộ phận phụ nữ còn mang tâm lý tự ti, chưa chủ động vươn lên; tỷ lệ nữ lãnh đạo tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa tương xứng với năng lực và đóng góp thực tế của phụ nữ.

Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phụ nữ trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, phải tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về bình đẳng giới, về vai trò đặc biệt quan trọng của phụ nữ trong phát triển kinh tế, giữ gìn văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến phụ nữ, đặc biệt là Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ nữ cần được làm bài bản, có chiến lược lâu dài, đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Các cấp ủy cần có chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ học tập, nâng cao trình độ, phấn đấu vươn lên. Các chính sách an sinh xã hội phải đặc biệt quan tâm đến nhóm phụ nữ yếu thế: phụ nữ nghèo, phụ nữ tàn tật, đơn thân, ở vùng sâu vùng xa – tạo điều kiện để họ được tiếp cận việc làm, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nhà ở và nâng cao đời sống tinh thần.

Cùng với đó, cần tiếp tục củng cố tổ chức Hội Phụ nữ vững mạnh toàn diện, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng sát cơ sở, phù hợp nhu cầu và điều kiện của từng nhóm đối tượng phụ nữ. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, gắn với các mục tiêu phát triển bền vững của địa phương và đất nước. Hội Phụ nữ các cấp cần phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, là cầu nối hiệu quả giữa phụ nữ với chính quyền, từ đó giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến quyền lợi của chị em.

Thực tiễn phát triển ở mỗi địa phương đã cho thấy, nơi nào tạo điều kiện để phụ nữ phát huy khả năng, nơi đó chứng kiến sự chuyển biến tích cực cả về kinh tế, văn hóa lẫn đời sống xã hội. Thúc đẩy công tác phụ nữ không phải là việc riêng của tổ chức Hội, mà là một phần thiết yếu trong tư duy lãnh đạo, trong quản trị xã hội và trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta. Đây không chỉ là sự ghi nhận công bằng đối với những đóng góp bền bỉ, lặng thầm của phụ nữ, mà còn là lựa chọn đúng đắn để nuôi dưỡng nguồn lực xã hội từ gốc – từ mỗi gia đình, mỗi cộng đồng. Khi phụ nữ được nâng cao vị thế, được khuyến khích tham gia và làm chủ sự thay đổi, thì cũng là lúc đất nước hội tụ đầy đủ các điều kiện để tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường phồn vinh, hiện đại và giàu bản sắc trong thế kỷ XXI.

Quế Nương