I. ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ, DÂN TỘC TỈNH VĨNH LONG
1. Đặc điểm dân cư
1.1. Dân số
1.1.1. Quá trình phát triển dân số
- Dân số Vĩnh Long buổi đầu khẩn hoang
Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai con sông, sông Tiền và sông Hậu, nên buổi đầu khẩn hoang, cư dân gốc từ miền Trung men theo sông, rạch vào vùng đất Vĩnh Long để định cư khai thác. Đất Vĩnh Long xưa trở thành nơi sinh sống của lưu dân người Việt từ rất sớm, ngay những năm đầu thế kỷ XVIII[1]. Thuở ấy, những nhóm cư dân ít ỏi tập trung ở các cù lao và khu vực kề sông Cổ Chiên, sông Hậu thuộc các huyện Long Hồ, Mang Thít, Trà Ôn… ngày nay. Tuy nhiên, cũng chưa có số liệu nào đề cập đến dân số Vĩnh Long thời thời điểm này.
Năm Nhâm Tý (1732), nhà Nguyễn thành lập dinh Long Hồ, trụ sở ban đầu đóng ở vùng Cái Bè (tỉnh Tiền Giang), sau mới chuyển đến xứ Tầm Bào (nay thuộc địa bàn thành phố Vĩnh Long).
Gần cuối thế kỷ XVIII, trong bộ sách "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn có nhắc đến tình hình dân cư của châu Định Viễn: "Số thôn của châu Định Viễn 350 thôn, dân hơn 7.000 đinh, ruộng hơn 7.000 thửa"[2]. Ngoài ra ông cũng đề cập đến lực lượng binh lính của chúa Nguyễn đóng tại đây: "Dinh Long Hồ, bản trấn tinh binh 20 thuyền, cộng 1.000 người, ghe bầu bải sư 18 chiếc là thuyền mã hội, tam binh hơn 300 thuyền, quân số chừng 12.000 người"[3]. Như vậy, có khá nhiều quân lính của chúa Nguyễn đã góp phần vào việc tăng dân số và tạo nên mật độ dân cư đông ở khu vực trung tâm dinh Long Hồ lúc bấy giờ.
Tóm lại, trong buổi đầu khẩn hoang, địa bàn thuộc Vĩnh Long ngày nay gắn liền với dinh Long Hồ. Với những chính sách phát triển về phía Nam của chúa Nguyễn, đặc biệt là giữa thế kỷ XVIII, trung tâm Long Hồ dinh xưa (Vĩnh Long ngày nay) nhanh chóng trở thành nơi có dân cư đông đúc. Trong đó, người Việt chiếm phần lớn, rồi đến người Hoa, người Khmer.
- Dân số Vĩnh Long thời Nguyễn (1802-1867)
Năm 1813, thành Vĩnh Long được xây dựng trên phần đất làng Long Hồ. Vùng đất Long Hồ trở thành trung tâm của trấn Vĩnh Thanh là nơi trù phú, có nhiều hoạt động thương mại diễn ra, dân cư đông đúc.
Do chính sách đồn điền từ thời Gia Long, nên Vĩnh Long có đặc điểm cư dân nổi bật hơn nơi khác: "Đến năm 1832 trở thành nơi có nhiều trại và đồn điền nhất trong Nam Kỳ lục tỉnh: 142 trại trong tổng số 247 trại và 6.174 dân đồn điền trong tổng số 9.703 dân đồn điền (64%)"[4].
Ngoài ra, do chính sách khai hoang lập ấp và do chiến tranh đã làm biến đổi tình hình chính trị xã hội ở Vĩnh Long. Dân số tăng vọt lên đến 423.428 người, trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh lỵ Vĩnh Long hơn 210.000 người, do đất Nam Kỳ bị quân Pháp chiếm đóng nên họ rời bỏ quê hơn đến đây tỵ nạn[5].
- Dân số Vĩnh Long giai đoạn 1867-1954
Năm 1867, thành Vĩnh Long thất thủ. Thực dân Pháp nhanh chóng xây dựng bộ máy hành chính để cai trị ở Vĩnh Long. Chúng bãi bỏ lục tỉnh chia Nam Kỳ ra 4 khu vực (Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac (Hậu Giang)), với 19 hạt và hai thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn. Khu vực Vĩnh Long có 4 hạt gồm hạt Vĩnh Long có 2 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh Trị; hạt Bến Tre có phủ Hoằng Trị; hạt Trà Vinh có phủ Lạc Hóa, huyện Trà Vinh; hạt Sa Đéc có huyện An Xuyên, Vĩnh An.
Dân số của khu vực Vĩnh Long năm 1878 gồm: Hạt Vĩnh Long có 14 tổng, 187 làng và số dân 123.004 người; Hạt Bến Tre có 21 tổng, 190 làng và số dân 162.054 người; Hạt Trà Vinh có 13 tổng, 200 làng và số dân 64.862 người; Hạt Sa Đéc có 9 tổng, 97 làng và số dân 110.467 người[6]. Như vậy vùng đất Vĩnh Long ngày nay tương ứng với hạt Vĩnh Long 1878. Hạt Vĩnh Long có số dân đứng hàng thứ hai trong khu vực, sau hạt Bến Tre.
Từ tháng 12/1899, tiểu khu hành chánh Vĩnh Long được chính thức gọi là tỉnh Vĩnh Long. Năm 1915, Vĩnh Long gồm 13 tổng và 104 xã, dân số là 131.617 người (trong đó có 31.536 dân tịch và 81 người Âu). So với toàn Nam Kỳ thì dân số Vĩnh Long đứng hàng thứ 11/20 tỉnh thành.
Đến năm 1953, Vĩnh Long có 4 quận Vĩnh Long, Chợ Lách, Tam Bình, Vũng Liêm, dân số là 250.000 người đứng hàng thứ 8/22 tỉnh thành Nam kỳ bấy giờ.
- Dân số Vĩnh Long giai đoạn 1954-1975
Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam thành lập chính quyền tay sai, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Do vậy, hành chính và dân số tỉnh Vĩnh Long có nhiều biến đổi.
Năm 1956, Vĩnh Long gồm 04 quận và 41 làng, có 217.320 người. Riêng ở tỉnh lỵ Vĩnh Long có 30.000 người. Lúc này dân số Vĩnh Long đứng hàng thứ 13/27 tỉnh, thành ở miền Nam Việt Nam.
Đến năm 1967, tỉnh Vĩnh Long gồm 07 quận với dân số 436.927 người. Năm 1970, tổng dân số Vĩnh Long 525.592 người, mật độ 308 người/km2.
Nhìn chung, trong giai đoạn 1954-1975 dân số Vĩnh Long vẫn theo xu hướng tăng. Phân bố dân số không đều, người dân thường tập trung nơi thị tứ, nơi dễ canh tác nông nghiệp.
- Dân số Vĩnh Long giai đoạn 1975 – nay
Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, để phù hợp với tình hình mới, hành chính và dân số Vĩnh long có nhiều thay đổi. Có thể chia thành hai giai đoạn chính:
+ Giai đoạn tỉnh Cửu Long (1975-1992): tháng 2/1976, tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Cửu Long gồm 7 huyện, 2 thị xã (thực tế có 2 thị xã và 10 huyện). Đến năm 1981, tỉnh Cửu Long có 2 thị xã và 13 huyện.
Trong giai đoạn năm 1980-1984, dân số tỉnh Cửu Long liên tục tăng từ 1.335.700 người (1976) tăng 1.634.233 người (1984), mật độ là 434,5 người/km2.
Đến năm 1990, dân số toàn tỉnh Cửu Long là 1.884.267 người mật độ là 484 người/km2. So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tỉnh Cửu Long đứng hàng thứ hai về dân số và đứng hàng thứ tư về mật độ dân số trong vùng.
+ Giai đoạn tỉnh Vĩnh Long (1992 đến nay): theo Nghị quyết về việc phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 10 (từ ngày 10 đến ngày 26/12/1991) tỉnh Cửu Long được thành 02 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Tỉnh Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 1.487,37 km2, dân số Vĩnh Long là 1.051.823 người[7].
1.2. Lao động - việc làm
1.2.1. Lao động
Theo niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 627.833 người, giảm 0,28% so năm 2017, trong đó lao động nam là 336.735 người (chiếm 53,63%); lao động nữ là 291.098 người (chiếm 46,37%).
1.2.2. Việc làm
Lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc trong các ngành kinh tế năm 2018, đạt 612.625 người. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 18%, trong đó lao động qua đào tạo tại khu vực thành thị là 39,1%, khu vực nông thôn là 14,1%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi là 2,42%, trong đó khu vực thành thị là 4,6%, khu vực nông thôn là 2,03%.
1.3. Mức sống, đời sống
1.3.1. Lĩnh vực giáo dục
Năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 130 trường mầm non; 307 trường phổ thông bao gồm 187 trường tiểu học, 89 trường trung học cơ sở, 24 trường trung học phổ thông.
Năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 38.230 học sinh mầm non; 171.038 học sinh phổ thông, bao gồm 82.968 học sinh tiểu học, 57.586 học sinh trung học cơ sở và 30.484 học sinh trung học phổ thông.
Năm 2018, toàn tỉnh có 3 trường đại học. Số sinh viên là 10.427. Năm 2018 toàn tỉnh có 1318 sinh viên tốt nghiệp đại học.
1.3.2. Lĩnh vực y tế
Số cơ sở khám chữa bệnh do nhà nước quản lý năm 2018 là 128 cơ sở, trong đó 17 bệnh viện, 02 phòng khám đa khoa khu vực và 109 trạm y tế xã phường. Số giường bệnh do nhà nước quản lý là 5.063 giường.
Tỷ trọng trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi là 13%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi là 22,1%.
1.3.3. Mức sống cư dân
Đời sống cư dân tiếp tục cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành là 3.127 nghìn đồng. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều đã giảm từ 3,71% năm 2017 xuống còn 2,63% trong năm 2018.
2. Dân tộc ở Vĩnh Long
2.1. Người Việt
2.1.1. Nguồn gốc
Thế kỷ thứ XVII, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long có ba tộc người sinh sống. Người Việt vẫn chiếm số lượng đông do chiến tranh Trịnh-Nguyễn kéo dài đã làm người dân vùng đất Quảng (Quảng Nam, Quảng Ngãi) vào phương Nam sinh sống. Tiêu biểu cho nhóm người đến định cư ở Vĩnh Long là nhóm của bà Nguyễn Thị Tuyết, ông Châu Vĩnh Huy huyện Vũng Liêm và nhóm các thiền sư. Đầu thế kỷ XIX người Việt từ Quảng Nam đến khẩn hoang lập đồn điền ngày càng nhiều.
Do thích nghi tốt với địa bàn sinh sống là vùng sông nước, nên người Việt định cư trên nhiều loại hình đất đai khác nhau như định cư dọc theo hai bờ sông rạch, sống trên vùng đất tương đối cao, nhóm sống trên ghe thuyền không lưu trú nhất định tại một chỗ… Từ đó, nhiều loại hình làng ra đời như làng đồng, làng sông…
2.1.2. Dân số
Thời Gia Long, vào năm 1819 thống kê số dân đinh ở trấn Vĩnh Thanh cao nhất trong các trấn của Gia Định thành gồm 37.000 dân, chiếm 38% số dân của 05 trấn. Người Việt vẫn là tộc người chính chiếm số lượng khá đông.
2.1.3. Hoạt động kinh tế
- Hoạt động nông nghiệp
Hoạt động kinh tế của người Việt phong phú với nhiều loại hình như sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn trái, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản… Đa số người Việt theo nghề nông là chính. Bên cạnh, do địa thế khá thuận lợi vì nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, nên các hoạt động kinh tế khác ra đời nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất đai, sông nước…
- Tiểu thủ công nghiệp
+ Tiểu thủ công nghiệp ở Vĩnh Long đa dạng về ngành nghề với những sản phẩm được ra đời tại các xóm nghề như đóng ghe xuồng, dệt chiếu, chằm lá, đan tre làm đồ gia dụng, làm ngư cụ bắt cá.
+ Thời Pháp thuộc, nghề làm gạch ngói, cưa xẻ gỗ phát triển phục vụ cho nhu cầu xây dựng. Nghề rèn, làm nhang, nghề làm kim hoàn cũng phát triển mạnh.
+ Giai đoạn thuộc chính quyền Sài Gòn, hoạt động tiểu thủ công nghiệp tập trung ở khu vực thị tứ. Các ngành nghề như chế biến nước mắm, nghề mộc, làm bánh mì… phát triển. Bên cạnh đó một số nghề như làm tàu hũ ky, tương chao, ép dầu phộng đã bắt đầu giảm dần.
Hiện nay, một số nghề tiểu thủ công nghiệp ở Vĩnh Long vẫn còn duy trì như nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ: làm nhang, đan đát, dệt chiếu; làm gạch ngói, gốm mỹ nghệ, chằm nón lá, chằm lá lợp nhà; nghề truyền thống phục vụ ẩm thực: nước mắm, nước tương, dưa cải, bánh tráng…
- Thương nghiệp
Thế kỷ XVIII, thương nghiệp Vĩnh Long cũng từng bước hình thành và phát triển. Thuyền buôn tập trung tại các sông Long Hồ, Mang Thít, Cổ Chiên để buôn bán gạo, cau, xoài, tôm khô… là những đặc sản nổi tiếng. Sản phẩm tại đây được trao đổi với nhiều vùng khác như Biên Hòa, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Hà Tiên.
Những năm 20 của thế kỷ XIX, Vĩnh Long xuất khẩu trung bình khoảng 80.000 tấn gạo mỗi năm, chiếm 50% số lúa gạo sản xuất.
2.1.4. Đặc trưng văn hóa
- Tín ngưỡng: của cư dân người Việt ở Vĩnh Long rất đa dạng. Vĩnh Long có đàn Tiên Nông, có miếu Hội Đồng, thờ hệ thống thần linh địa phương gồm cả thiên thần và nhân thần.
Thần Thành Hoàng cũng là dạng tín ngưỡng không chỉ thờ ở kinh đô mà còn thờ ở địa phương và có tên gọi là Thành hoàng Bổn cảnh. Tại Vĩnh Long đến đời vua Thiệu Trị mới có Thành hoàng ở địa phương.
Trong gia đình người Việt còn thờ thần hộ mệnh, thần bản gia (Thần bếp, Thần nhà, Thần giếng…).
Như vậy, qua hệ thống tín ngưỡng ở Vĩnh Long cho thấy cư dân Việt đã thờ một hệ thống thần linh có ảnh hưởng bởi Nho giáo, Đạo giáo.
- Tôn giáo: người Việt ở Vĩnh Long theo các tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo…
+ Phật giáo chiếm đa số tín đồ trong tỉnh, có 03 hệ phái: Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ.
+ Đạo Cao Đài tại Vĩnh Long có một số phái như Cao đài Tây Ninh, Cao Đài Tiên Thiên, được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và 4 phái Cao Đài độc lập gồm: Cao Đài Thống Nhất Việt Nam, Cao Đài Chiếu Minh Giáo Tòa, Cao Đài Chiếu Minh Tự, Cao Đài Tân Chiếu Minh.
+ Đạo Hòa Hảo ở Vĩnh Long do Huỳnh Phú Sổ đến truyền đạo vào năm 1945. Đa số tín đồ tập trung ở thị xã Bình Minh.
+ Công giáo có mặt sớm ở Vĩnh Long. Giáo phận Vĩnh Long được chính thức thành lập năm 1938, quản lý các họ đạo ở các tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, một phần của Đồng Tháp (Sa Đéc) hiện nay.
+ Đạo Tin lành đến Vĩnh Long khá muộn, những năm 20 của thế kỷ XIX từ Mỹ Tho truyền sang. Tại huyện Tam Bình, Long Hồ, thị xã Bình Minh phát triển khá đông tín đồ.
2.2. Người Hoa
2.2.1. Nguồn gốc
Người Hoa đến Vĩnh Long vào thế kỷ XVII, đó là những lớp người di cư từ Trung Quốc sang, chia thành nhiều đợt nhưng đông đúc nhất là đợt di dân vào Việt Nam năm 1679. Họ là những người "phản Thanh phục Minh", đó là những nông dân, thợ thủ công…. đã nhập cư khá sớm vào Vĩnh Long.
Nghề nghiệp phổ biến của người Hoa là kinh doanh, mua bán, do vậy đa số người Hoa chọn thị trấn, thị tứ làm nơi định cư.
2.2.2. Dân số
Trong quá trình nhập cư và định cư ở Việt nam, cộng đồng người Hoa đã lập gia đình, có mối quan hệ hôn nhân với người Việt nên họ cư trú tại những làng được gọi là Minh Hương.
Người Hoa ở Vĩnh Long sống tập trung nhiều tại thành phố Vĩnh Long và các huyện Long Hồ, Trà Ôn, Vũng Liêm, thị xã Bình Minh.
2..2.3. Hoạt động kinh tế
Xuất phát từ thế mạnh giỏi về thương mại, dịch vụ nên ngay từ khi định cư ở Vĩnh Long, người Hoa đã chọn cư trú ở những địa thế thuận tiện cho việc buôn bán. Tại các điểm tụ cư, người Hoa sống bằng nghề bán tạp hóa, mở tiệm thuốc Bắc, sản xuất bánh kẹo, mở quán ăn, làm cơ khí, hàn tiện… Tại một số vùng nông thôn như Bình Minh, Vũng Liêm, Long Hồ người Hoa Triều Châu còn làm rẫy.
2.2.4. Đặc trưng văn hóa
Người Hoa trong quá trình di trú đã giản dị hóa phong tục và tín ngưỡng, chỉ giữ lại tục thờ thần. Đời sống tinh thần được quan tâm qua sinh hoạt tín ngưỡng. Trong gia đình cũng như tín ngưỡng cộng đồng, người Hoa thờ nhiều thần linh khác nhau. Gia đình người Hoa thờ Tổ tiên, Thổ địa, Thần tài, Táo quân. Cộng đồng người Hoa thờ Quan Thánh, Ông Bổn, Thiên Hậu Thánh mẫu, Thất vị Thánh mẫu…
Tổ chức bang hội là đặc thù của cộng đồng người Hoa trong tổ chức xã hội, vừa góp phần giáo dục cộng đồng, vừa có nơi tương trợ giúp đỡ cho người đồng tộc trong mua bán, sinh hoạt.
2.3. Người Khmer
2.3.1. Nguồn gốc
Người Khmer là cư dân cộng cư, sống xen kẽ với người Kinh (người Việt) và người Hoa, hầu hết là ở nông thôn, tập trung chủ yếu ở các huyện Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm và thị xã Bình Minh, trong đó tập trung đông nhất là huyện Trà Ôn, đặc biệt tại xã Tân Mỹ chiếm gần 51%.
Đặc trưng trong cư trú của người Khmer là sống trên đất giồng. Sự phân bố nhà cửa của người Khmer tùy thuộc nhiều vào địa thế của giồng đất, tạo cảnh quan khá khác biệt. Mỗi phum, sóc đều có một ngôi chùa, trong khuôn viên trồng nhiều cây cổ thụ như sao, dầu, tạo cho ngôi chùa không gian thâm u, tĩnh lặng.
2.3.2. Hoạt động kinh tế
Người Khmer Vĩnh Long đa số cư trú ở nông thôn, nên chủ yếu sống bằng nghề nông với phương pháp canh tác cổ truyền, nông nghiệp lúa nước. Bên cạnh họ cũng làm một số nghề thủ công truyền thống như đan đát, chằm lá, thợ rèn, làm cốm dẹp…
Hiện nay, một số gia đình Khmer đã chuyển địa bàn cư trú, sống tập trung ở trong vùng khu giãn dân, cư trú dọc theo tuyến giao thông nên mở cửa hàng tạp hóa, bán bánh kẹo, nước giải khát, trái cây.
2.3.3. Đặc trưng văn hóa
Người Khmer theo Phật giáo Nam Tông. Đạo Phật chi phối đời sống của người Khmer trên nhiều lĩnh vực, không chỉ là việc thực hành đức tin, nghi thức thờ cúng, mà cả trên phương diện giáo dục, văn học, nghệ thuật. Ngôi chùa Khmer vì vậy có vai trò quan trọng trong đời sống người dân. Từ kiến trúc, trang trí, tượng thờ đến lễ hội diễn ra trong chùa, đã tạo môi trường cho người Khmer gắn bó mật thiết với ngôi chùa từ khi sinh ra cho đến khi họ qua đời.
2.4. Các tộc người khác
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long còn có các tộc người khác sinh sống như: Mường, Thái, Thổ, Tày, Nùng, Dao, Chăm… Các dân tộc này sống hòa thuận với cộng đồng cư dân khác trong tỉnh.
II. ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT NGƯỜI DÂN VĨNH LONG
1. Văn hóa ẩm thực
1.1. Văn hóa ẩm thực của người Việt
Ẩm thực dân gian của người Việt ở Vĩnh Long mang đậm nét đặc thù của vùng sông nước miệt vườn. Dựa vào môi trường thiên nhiên để sinh sống, người Việt trong những buổi đầu đến sinh sống ở Vĩnh Long đã khai thác chế biến thành thức ăn trong bữa cơm hằng ngày, nhiều món ăn dân dã mộc mạc được lưu truyền trong đời sống của cư dân địa phương.
Các món ăn của người Việt gồm có: tôm kho tàu, canh chua, cá cóc kho nước dừa, bánh xèo, lươn, cá lóc, rắn, ếch đồng, măng, nấm…
1.2. Văn hóa ẩm thực của người Khmer
Ở Vĩnh Long, đồng bào dân tộc Khmer hầu hết sống ở nông thôn, địa bàn cư trú xung quanh là ruộng, vườn, sông, rạch và đó chính là nơi cung cấp cho họ những sản vật tự nhiên - một nguồn thức ăn vô cùng phong phú và lúc nào cũng sẵn có: rau, quả ngoài vườn; cá, tôm dưới ao, hồ, sông, rạch. Nhìn chung ẩm thực của họ cơ bản là giản dị, hài hòa với thiên nhiên. Họ không kén chọn cầu kỳ, tỷ mỉ, chủ yếu tận dụng môi trường thiên nhiên.
Các món ăn của người Khmer gồm có: Mắm prohok (Bò - hóc), canh "xiêm lo", bún nước lèo, cháo môn với lươn,…
1.3. Văn hóa ẩm thực của người Hoa
Văn hóa ẩm thực người Hoa Nam Bộ gần gũi và tương đồng với văn hóa của nhiều dân tộc anh em ở Việt Nam. Đặc biệt là sự giao lưu văn hóa giữa người Hoa với người Việt, người Khmer, người Chăm… trên vùng đất Nam Bộ, trong sự nghiệp mở mang và bảo vệ bờ cõi đất phương Nam của Việt Nam. Mặt khác, văn hóa ẩm thực người Hoa Nam Bộ cũng có những nét đặc sắc riêng và độc đáo. Chính sự khác biệt này mà văn hóa ẩm thực người Hoa Nam Bộ đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú, đa dạng và rực rỡ sắc màu.
Đặc sản ẩm thực của người Hoa khá quen thuộc như: hủ tiếu, bánh bao, há cảo, sủi cảo… Trong ẩm thực của người Hoa luôn có nhiều loại nước chấm cho từng món ăn, trong đó tàu vị yểu hay xì dầu là nước chấm phổ biến.
2. Trang phục
2.1. Trang phục của người Việt
2.1.1. Trang phục áo dài
Giai đoạn cuối thế kỷ thứ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, phụ nữ ở Vĩnh Long mặc áo dài rộng, áo cổ vuông, cao khoảng 3 phân, màu sậm. Đối với gia đình trung lưu, thượng lưu thì cổ áo dài của họ có hai lớp, lớp ngoài thường màu áo sậm, cổ áo bên trong màu trắng cao hơn cổ áo bên ngoài khoảng nửa phân. Áo dài của phụ nữ lớn tuổi thường tay rộng, còn phụ nữ trung niên và trẻ tuổi thường may bó chặt ở cánh tay và cổ tay.
Ngày nay, chiếc áo dài vẫn được chị em phụ nữ lựa chọn để mặc vào các dịp trang trọng như: lễ cưới, ngày tết, lễ tốt nghiệp hoặc trong những cuộc thi quan trọng… Có một số ngành chọn chiếc áo dài làm trang phục công sở như: ngành giáo dục, ngân hàng, bưu điệnhoặc là đồng phục nữ sinh tại trường trung học….
2.1.2. Trang phục áo bà ba
Hiện chưa có tài liệu nào xác định nguồn gốc của áo bà ba. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX thì chiếc áo bà ba được sử dụng phổ biến, nó gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Việt, trở thành một bộ trang phục đặc trưng cho cả nam và nữ, một trong những biểu tượng của văn hóa mặc của miền sông nước.
2.1.3. Trang phục cưới
Cho đến đầu thế kỷ XX, chú rể trong ngày cưới còn mặc áo lương the đen (hàng the), quần vải trắng, đầu vấn khăn đen. Cô dâu mặc áo vân đen mỏng, quần đũi màu hồng sậm. Dâu và rể đều khoác bên ngoài áo thụng rộng xanh, lót màu cánh sen.
Hiện nay, trong ngày cưới, khi làm lễ trước bàn thờ gia tiên, chú rể có thể mặc âu phục, nhưng hầu như phần lớn các cô dâu đều còn giữ y phục cổ truyền áo dài màu hồng hay đỏ.
2.1.4. Tang phục
Về tang phục của người Việt tương đối đơn giản. Đối với người qua đời, những người thân trong gia đình mặc tang phục bằng vải thô, vải xấu màu trắng để biểu hiện tình cảm đau buồn.
2.2. Trang phục của người Khmer
Trang phục truyền thống của người Khmer đặc sắc ở lối mặc váy và gắn liền với tín ngưỡng Phật giáo. Trong quá trình cộng cư lâu đời và có sự giao thoa về văn hóa với người Việt nên cách ăn mặc người Khmer gần giống như người Việt.
2.2.1. Trang phục của nữ giới
Bộ y phục truyền thống của người Khmer mặc các loại sămpêt chôn kpal (loại váy cổ) làm từ tấm vải rộng, khi vận quấn quanh người, phần còn lại luồn qua giữa hai chân, thành một loại quần phồng ngắn. Ngày nay, vũ nữ Khmer trên sân khấu cũng còn thấy mặc loại váy cổ này.
Ngoài những loại váy, người Khmer còn mặc một loại y phục cổ truyền nữa là áo dài tàm pông (arảy, wên), mặc với sămpết dài tới gót chân, giắt mối cạp váy ở một bên hông giống với áo dài của phụ nữ Chăm láng giềng, nhất là cổ áo hình trái tim, tay áo bó sát, bịt tà, may bằng cách ghép bốn mảnh vải khổ hẹp,...
Người Khmer vẫn sử dụng phổ biến chiếc khăn krăma cổ truyền (hay còn gọi là khăn rằn), được dệt bằng sợi bông, hoa văn hình ô vuông nhỏ màu đỏ, màu hồng hoặc màu xanh trên nền trắng.
2.2.2. Trang phục của nam giới
Trang phục của nam giới Khmer thường mặc xà rông và ở trần, khi ra ngoài đường họ mặc bộ quần áo bà ba đen như người nông dân Việt. Ngoài ra, trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt, nam giới Khmer thường mặc áo, quần dài, đi chân đất hoặc đi dép cao su.
Thời gian gần đây, người Khmer đã có kiểu áo cách tân đại cán bốn túi, bằng vải ka-tê. Vạt trước có 4 túi giả (thực ra chỉ làm nắp túi và được cài cúc giả) gồm 2 túi trên nhỏ, 2 túi dưới to hơn.
2.2.3. Trang phục trong lễ cưới, lễ tang
Trang phục cưới cổ truyền của người Khmer rất lộng lẫy. Cô dâu mặc váy sămpết hôl màu đỏ tím sẫm hoặc màu hồng cánh sen cùng với chiếc áo ngắn bó chẽn, hoặc áo dài tầm pong màu đỏ bít tà, quàng khăn trắng ngang người, đội mũ kpâl plốp kiểu hình tháp nhọn nhiều tầng bằng kim loại hay giấy bồi cứng, trang trí nhiều màu sắc. Chú rể mặc chiếc hôl đỏ thẫm, áo ngắn trắng hay màu, tay dài, cổ cứng, xẻ ngực giữa cài khuy, khăn vắt vai trái. Chú rể còn đeo con dao cưới (Kầm pách) bên hông với ý nghĩa bảo vệ cô dâu.
Trang phục trong tang lễ của người Khmer Nam bộ nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng ảnh hưởng từ người Việt và người Hoa, đội khăn và mặc áo tang trắng như người Việt.
2.3. Trang phục của người Hoa
2.3.1. Nữ phục
Phụ nữ lớn tuổi thuộc tầng lớp bình dân vẫn còn mặc bộ quần áo lụa hoặc vải đen cổ truyền (có khi mặc áo màu lam). Kiểu áo ngắn này có tay dài hoặc ngắn ngang khuỷu, có hò vạt vòng qua sườn phải cài nút thắt, cổ áo cao, mềm, tà xẻ hai bên hông hoặc mặc áo xẻ ở giữa, cài nút thắt. Người Hoa thường mặc bên trong áo một chiếc áo cánh ngắn. Thêm vào bộ y phục kể trên là một chiếc khăn tay trắng thường khi được cài ngay chỗ hò để lau mặt hoặc lau tay.
Trang phục lễ cưới cổ truyền của người Hoa chỉ còn thấy hiếm hoi, phần lớn trong những gia đình nền nếp, bảo tồn phong tục tập quán. Khi làm lễ trước bàn thờ gia tiên, ra mắt dòng họ, cô dâu người Hoa mặc bộ áo cưới màu đỏ gồm chiếc xiêm đỏ bằng gấm thêu, dài chấm gót và chiếc áo ngắn bằng gấm ngũ sắc, cổ đứng, xẻ giữa, nút thắt to, tay áo dài và rộng để lộ chiếc áo trắng bên trong. Toàn bộ áo và xiêm cô dâu Hoa đều thêu nổi hình phụng. Cô dâu còn đội thêm chiếc mũ cưới "phùng kúi" tức mũ phụng, gồm hình con chim phượng với các bông nhung đỏ đung đưa theo bước chân, phía trước mũ có chiếc rèm thưa bằng hạt châu hoặc cầm quạt để che mặt khi e thẹn.
2.3.2. Nam phục
Trang phục nam giới Hoa thuộc thành phần bình dân cũng rất đơn giản. Ở trong nhà họ mặc quần đùi màu đen, rộng và dài, lưng cột dây rút và quấn tròn quanh bụng. Khi lao động họ mặc quần áo vải đen, áo "xá xẩu" cổ truyền, cổ đứng, xẻ giữa từ cổ xuống vạt, cài nút thắt, lưng áo có đường nối. Tuy nhiên, về sau này người Hoa dần có sự thay đổi trong cách ăn mặc để phù hợp với điều kiện sinh hoạt nên hầu như mặc quần đùi dài ngang gối, áo xá xẩu tay lỡ, ít khi cài cúc.
Trang phục cổ truyền lễ cưới của chú rể người Hoa là bộ xiêm áo bằng gấm xanh, dệt chữ "Thọ" hoặc "Phúc", nếu áo có thêu rồng gọi là "lùng xám" hay còn gọi là áo rồng. Trên đầu đội mũ quả bí hoặc mũ dưa hấu màu xanh sậm, chân đi hia bọc gấm. Giữa ngực chú rể có đính kết một bông hoa vải to màu đỏ, có dải dây cột chéo vào người. Cũng có khi chú rể không cài hoa mà khoác bên ngoài áo dài một chiếc áo ngắn không tay, xẻ giữa, gọi là áo "mạ hoa".
2.3.3. Trang phục tang ma
Trang phục tang ma của người Hoa chủ yếu là màu đen. Tùy theo quan hệ với người quá cố mà trang phục có những dấu hiệu riêng để phân biệt thế thứ, họ hàng.
3. Nhà ở
3.1. Nhà ở của người Việt
Do địa bàn Vĩnh Long hẹp, địa hình giữa các vùng (đất ruộng, đất giồng, đô thị) không cách xa nhau nên nhìn trên bình diện toàn tỉnh các tộc người ở đây sống xen cư, cộng cư chứ không hề có sự tách biệt nào.
3.1.1. Các loại hình cư trú
- Loại hình cư trú ven sông, rạch: ở Vĩnh Long do điều kiện tự nhiên nhiều sông rạch lớn nhỏ chằng chịt, nhiều con rạch lớn là đường lưu thông đường thủy chính của cư dân, nên ngay từ thời khai hoang lập nghiệp cư dân đã cư trú dọc bờ sông rạch để thích ứng với môi trường tự nhiên. Loại hình cư trú ven sông rạch của cư dân Vĩnh Long đã hình thành nên nét sinh hoạt văn hóa ở đây.
- Loại hình cư trú dọc trục lộ giao thông: cùng với việc cư trú ven sông, kênh, rạch, là việc cư trú ven đường mòn trong quá trình khai hoang mở đất; đó cũng là nguyên nhân cho việc phát triển hệ thống giao thông đường bộ sau này và dạng cư trú dọc theo các trục lộ giao thông bắt đầu hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhiều xóm ấp được hình thành ven các con lộ lớn và loại hình cư trú này dần dần thích nghi cho các hoạt động dịch vụ, mua bán của cư dân.
- Loại hình cư trú tập trung: loại hình cư trú tập trung của cư dân ở Vĩnh Long được hình thành đồng hành với quá trình phát triển hệ thống đô thị của tỉnh. Tỉnh lỵ có nhiều đường phố, với bến cảng, nhiều hiệu buôn, một nhà lồng chợ và đã có nhà cửa khang trang (chủ yếu của người Pháp), tòa án, trạm bưu chính, hạm thu thuế nhà thờ, bệnh viện, trường học,... Đó là những bước đầu hình thành phố xá, phát triển nhà cửa san sát về sau.
3.1.2. Nhà ở của cư dân Vĩnh long
Ngôi nhà là nơi che nắng, che mưa, là cái nôi của sự sống, là nơi sum họp gia đình, là nơi giỗ chạp, lễ tết và cũng có thể là nơi để làm ăn. Ngôi nhà của cư dân đã được chắt lọc từ những yêu cầu của điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện môi trường tự nhiên, thể hiện được quan hệ ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cả cộng đồng làng xóm.
Bố cục không gian nhà ở truyền thống được phân bố giữa nhà chính, nhà phụ, sân, vườn, ao rất chặt chẽ về mặt sinh hoạt, đồng thời mang tính mở, giữa con người với tự nhiên hòa đồng với nhau. Với bố cục không gian theo kiểu truyền thống đã thể hiện tính gần gũi, chan hòa giữa con người với môi trường thiên nhiên cũng như trong quan hệ cộng đồng làng xóm.
Dần dần qua thời gian do đô thị hóa, bên cạnh những ngôi nhà theo mô hình truyền thống đã xuất hiện kiểu tụ cư, ở liền kề cách nhau một bức tường gạch và các kiểu như phân bố theo dãy phố tách biệt, có quy hoạch hệ thống đường, cống thoát nước, nhà xây theo kiểu dùng mặt tiền làm cửa hàng kinh doanh buôn bán.
3.2. Nhà ở của người Khmer
Đặc trưng trong cư trú của người Khmer là sống trên đất giồng. Sự phân bố nhà cửa của người Khmer tùy thuộc nhiều vào địa thế của giồng đất, tạo cảnh quan khá khác biệt.
Nhà ở của người Khmer gồm hai loại: nhà sàn và nhà đất.
- Nhà sàn (pteah khmer): vốn là loại hình nhà truyền thống theo phong tục tập quán từ xưa tới nay của họ. Nhưng hiện nay ở Vĩnh Long nhà sàn của người Khmer dần mai một, chỉ còn sót lại rất hiếm hoi một vài nhà sàn kiểu xưa của người Khmer được xây dựng cách nay trên một thế kỷ trong khuôn viên một số chùa cổ kính và nơi một vài phum sóc lâu đời ở Vĩnh Long.
- Nhà đất: từ khoảng hơn nửa thế kỷ nay, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long cư trú trong loại hình nhà đất và phần lớn nhà ở dạng thô sơ và bán kiên cố.
Cách bày trí trong nhà ở của người Khmer nếu có sự khác biệt là do phụ thuộc vào mức sống cao hay thấp, thường được thể hiện ở đồ đạc nhiều hay ít và giá trị của các đồ đạc ấy… còn hầu như cơ bản đều sắp xếp theo kiểu cách giống nhau.
3.3. Nhà ở của người Hoa
Do thích hợp với nghề buôn bán, sản xuất tiểu thủ công nghiệp nên phần lớn người Hoa sinh sống tập trung tại thị xã, thị trấn, số ít sống tại vùng nông thôn hoặc ngoại ô thị trấn. Người Hoa chọn địa thế xây dựng nhà ở thuận lợi cho việc buôn bán, họ xem ngôi nhà vừa là nơi thờ phụng tổ tiên, các vị thần vừa là nơi sinh hoạt, buôn bán, lao động sản xuất.
Nhà truyền thống của người Hoa có loại một gian, ba gian hoặc năm gian, mặt bằng sinh hoạt theo dạng nhà chữ nhị (tức nhà xếp đọi từ một đến ba dãy), rất ít hoặc thậm chí không có nhà dạng chữ đinh, chữ công.
Ngày nay, nhà của người Hoa tại Vĩnh Long có nhiều biến đổi, phổ biến nhất là họ thường sinh sống trong những căn nhà một gian giống nhau, cất liền sát theo từng dãy phố, ở mặt tiền đường theo dạng nhà trệt, nhà gác hoặc nhà lầu, phần trệt để buôn bán, phần lầu hoặc gác là nơi ở và sinh hoạt.
4. Công cụ sản xuất
4.1. Nông cụ truyền thống
Người nông dân Việt ở Vĩnh Long sinh sống bằng nghề trồng lúa, nghề làm vườn, nghề làm rẫy. Vì vậy nông cụ được chế tác nghề trồng lúa như: phảng, cù nèo, cày, bừa, trục, ách, ghế nhổ mạ, ván mạ, nọc cấy, phảng cấy, gàu giai, vòng hái, liềm, bồ đập lúa, cặp đập lúa, thang bồ... Nông cụ nghề làm vườn: cuốc, leng, gàu xúc đất, dao yếm, dao chét, cào cỏ, gàu tát nước, thùng tưới nước, cưa, lồng, thang, ghế cao, cần xé, thúng… Nghề làm rẫy: cuốc, cào cỏ, leng, thùng tưới nước, dao yếm, gàu mo cau, bàn cào khoai lang…
4.2. Ngư cụ truyền thống
Công cụ thủ công đánh bắt thủy sản truyền thống giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức đánh bắt, kết hợp với kinh nghiệm, cách thức, quy mô đánh bắt. Căn cứ vào chức năng, kỹ thuật đánh bắt, có thể chia công cụ đánh bắt thành các nhóm sau: lờ, lọp, đó (đú), lú, cái thời (xà ngôn), ống trúm, đăng, dớn, đáy, chất chà, chài, nơm, vó…
5. Nghề thủ công - nghề truyền thống
5.1. Nghề thủ công - nghề truyền thống của người Việt
Thế kỷ thứ XVII một lớp cư dân người Việt, người Hoa, người Khmer đã đến định cư bằng cách khai hoang, tiến hành khai phá để tạo lập
cuộc sống mới, bước đầu hình thành các cộng đồng dân cư theo thời gian và cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhiều ngành nghề trở thành công việc mưu sinh chủ yếu của cư dân địa phương, từ đó hình thành những xóm nghề, làng nghề như: Nghề chằm nón, nghề chằm lá, nghề đan đát, nghề diệt chiếu.
- Nghề trồng lúa nước: là nghề truyền thống lâu đời nhất của người Việt. Từ hạt gạo, người ta có thể chế biến ra nhiều món ăn. Thân lúa (rơm) sau khi thu hoạch được phơi khô có thể làm chất đốt hoặc thức ăn cho trâu, bò... Vỏ lúa (hay còn gọi là trấu) được dùng làm chất đốt. Cám là một sản phẩm sau khi người ta chà gạo, dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm.
- Nghề làm nhang ở Bình Minh: ở Bình Minh, sản phẩm nhang làm ra chủ yếu có hai loại là nhang nhúng thủ công truyền thống và nhang ép được làm bằng máy.
- Nghề sản xuất nước mắm ở xã An Bình: đã có cách đây hơn 60 năm. Nghề sản xuất nước mắm mang tính chất truyền thống cho nên kĩ thuật chế biến là khâu quan trọng nhất của mỗi cơ sở sản xuất.
- Nghề làm dưa cải ở Bình Tân: huyện Bình Tân là vùng đất trồng cây màu. Riêng xã Tân Lược, là nơi tập trung nhiều hộ sống bằng nghề làm dưa cải, có con sông Trà Mòn chảy qua, tàu bè có thể thông thương đi lại dễ dàng, thuận lợi cho việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nghề làm dưa cải ở Tân Lược xuất hiện khoảng trên 60 năm nay và được nhiều người biết đến với thương hiệu "Dưa cải Tân Lược".
- Nghề làm bánh tráng giấy ở Tường Lộc - Tam Bình đã có từ hơn 60 năm về trước. Bánh tráng giấy giản đơn đã nuôi lớn bao thế hệ người dân trên đất Tam Bình. Kể từ khi làm nghề được công nhận theo tiêu chí qui định, nhiều cơ sở sản xuất đã phấn đấu giữ vững uy tín, thương hiệu bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời bảo đảm vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.
5.2. Nghề thủ công của người Khmer
Hầu hết các vật gia dụng và dụng cụ sản xuất của người Khmer được làm bằng gỗ, mây, tre. Cho nên nghề thủ công đan thúng, rổ, giỏ xách, làn đựng hoa quả… hay các dụng cụ đánh bắt cá như: lờ, đó, đăng… được đan rất đẹp và sử dụng rất bền, rất phổ biến trong các vùng nông thôn Khmer.
Nghề thủ công của người Khmer gồm: đan ầm ê, đan xà ngôn…
5.3. Nghề thủ công – nghề truyền thống của người Hoa
Người Hoa ở Vĩnh Long hoạt động chủ yếu là buôn bán, cho nên những sản phẩm của họ cũng gắn liền với việc buôn bán hoặc phục vụ cho buôn bán. Trong các vật dụng mà người Hoa đan như: nia, xịa, thì đan cần xé có thâm niên nhất. Cần xé được đan có 2 loại là đan thưa, đan dầy và nhuyễn. Đan cần xé cũng phải có tính cần mẫn chịu khó.
Ở Vĩnh Long, nghề truyền thống của người Hoa cũng trải qua hàng trăm năm tồn tại và phát triển, góp phần vào việc ổn định đời sống của cư dân trên vùng đất mới và đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân. Trong đó, phải nói đến nghề làm tàu hủ ky, nghề làm bánh bao, nghề làm trứng vịt bắc thảo, trứng vịt muối,…
Nghề làm nước tương, chao: nước tương, chao được chiết xuất từ đạm thực vật mà nguồn nguyên liệu chính là đậu nành. Về lịch sử hình thành sản xuất nước trương, chao đã có từ lâu đời, cách đây hơn 50 năm do ông Mạch Min (người Hoa) trước ở Trà Ôn đến Bình Minh lập nghiệp và truyền lại.
III. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, TINH THẦN CỦA NGƯỜI VĨNH LONG
1. Đời sống tinh thần
1.1. Phong tục tập quán
1.1.1. Việc cưới
- Cưới hỏi của người Việt - người Hoa
Việc cưới của người Việt, người Hoa ở Vĩnh Long cơ bản tuân theo lục lễ của Nho giáo gồm 6 lễ đó là: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ và nghinh thân.
Ngày nay tục lễ cưới hỏi còn đơn giản hơn chỉ còn lễ sơ vấn, lễ hỏi và lễ cưới. Đôi lúc chỉ còn lễ sơ vấn, còn lễ hỏi và lễ cưới gom lại thành một lễ.
Luật pháp cấm hôn nhân trong ba đời. Theo tục lệ xưa chú rể phải lạy người sống, mỗi người 2 lạy 2 xá; gần đây nhiều nơi đã đơn giản chỉ yêu cầu chú rể cúi đầu cung kính xá vài xá cũng đủ lễ.
- Cưới hỏi của người Khmer
Mùa cưới của đồng bào Khmer Vĩnh Long thường tập trung vào trước lễ Chol Chnam Thmay. Riêng trong thời gian an cư kiết hạ (từ ngày 15/6-15/9 hàng năm) thì không tổ chức cưới hỏi. Trước đây việc cưới hỏi của người Khmer có nhiều nghi lễ phức tạp, tốn kém. Dần các nghi lễ được thay đổi theo hướng đơn giản, ít tốn kém.
Ngày nay tục cưới hỏi của người Khmer đơn giản hơn, chỉ giữ lại một số nghi thức chính. Nhưng trong lễ cưới không thể thiếu nghi thức mời sư sãi đến tụng kinh chúc phúc.
1.1.2. Tang ma
- Tang lễ người Việt - người Hoa
Tang chế của người Việt - người Hoa Vĩnh Long có ba hình thức: ân, nghĩa và tình.
- Ân: là tang thể hiện hiếu đạo, như con cháu để tang cho ông bà, cha mẹ.
- Nghĩa: là tang thể hiện tình nghĩa như cháu để tang cho chú bác, cậu dì, em để tang cho anh, con rể để tang cho cha, mẹ, vợ…
- Tình: là tang thể hiện tình cảm đặc biệt như học trò để tang thầy, tử đệ để tang cho ân nhân cưu mang, cứu mạng.
- Tang lễ của người Khmer
Khi gia đình có người hấp hối, người Khmer phải thỉnh một vị sư hoặc một Ach Duki (thầy cúng) đến đọc kinh. Con cháu lập bàn thờ Phật tại đầu giường người hấp hối. Ông Acha Duki đặt một tô nước hương, 04 cây đèn cầy, làm 04 cái Sla thô, 04 cây cờ hồn (cờ lễ hội). Khi người đã chết gia đình mời sư sãi đến vẫy nước hương, đọc kinh trước khi khâm liệm. Sau đó đánh trống báo tin để người dân trong phum sóc đến phúng điếu. Mỗi tối đều mời sư đến đọc kinh.
1.1.3. Các lễ trong năm
- Tết Nguyên đán
Nguyên đán là ngày đầu tiên của năm, là cái mốc quan trọng nhất của một năm. Tết Nguyên đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam. Đây là ngày đầu tiên của năm mới, thể hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh trong quan niệm của người phương Đông. Đó chính là ngày đoàn viên của mọi gia đình trong 3 ngày Tết.
- Tết Đoan Ngọ
Tết Đoan ngọ là ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Đoan ngọ còn gọi là "trùng ngũ" (tức năm - năm). Ngày này mọi gia đình đi mua sắm, nấu nướng cỗ bàn dâng cúng tổ tiên. Cũng có người theo quan niệm tín ngưỡng, chỉ cúng Trời, Phật, Thánh thần các loại hương hoa, trà quả, nhưng cũng chế biến thêm các loại thực phẩm đặc biệt để cả nhà thưởng thức vui vẻ. Trước đây ngày Đoan ngọ có tục lệ trừ sâu bọ, tìm thuốc lá… nay đã không còn.
- Tết Trung thu
Tết Trung thu là ngày rằm tháng 8 âm lịch (15/8). Trung thu là lễ cúng Thần Mặt trăng của xã hội nông nghiệp. Ở Việt Nam còn là ngày Tết Thiếu nhi: ngày trẻ con bày cỗ, đốt đèn, múa lân, ca hát, vui chơi. Tết Thiếu nhi Việt Nam tổ chức vào chiều tối ngày 14/8 âm lịch.
- Các lễ khác
Lễ cúng cơm mới: là lễ dâng cúng những bát cơm mới đầu mùa (có thể thay thế bằng gạo).
Cúng việc lề còn gọi là giỗ lề (giỗ lệ) là một loại giỗ hội để tưởng nhớ về tổ tiên ở miền Trung. Mỗi dòng họ có một ngày giỗ lệ, lễ vật là các loại thức ăn gốc miền Trung như cơm canh, cháo cá ám, cá nướng trui.
1.2. Tín ngưỡng dân gian
1.2.1. Tín ngưỡng dân gian trong cộng đồng
- Thờ cúng thần linh
Thời Nguyễn, tại Vĩnh Long có miếu Hội đồng, miếu Thành hoàng, đàn Xã tắc, đàn Tiên Nông… có quy chế sắc phong. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược thì những nơi này bị tàn phá, một số ít được nhân dân đấu tranh bảo tồn, biến thành nơi thờ tự dân gian.
Cộng đồng người Hoa tại Vĩnh Long trước đây chia thành nhiều bang, hội. Mỗi bang tương ứng với một làng nên họ thờ Phước Đức Chánh Thần[8]. Bên cạnh còn thờ nhiều vị phúc thần như Quan Thánh Đế quân, Tài Bạch Tinh quân, Thái Bạch Kim tinh.
Mỗi xóm ấp người Việt đều có một ngôi miếu thờ thần linh như: Chúa Xứ Thánh mẫu, Thủy Long Thánh phi, Ngũ Lôi Thần nữ, Nam Hải Tướng quân, Linh Sơn Thánh mẫu, Bạch Hổ…
- Thờ cúng anh hùng liệt sĩ
Tục thờ cúng anh hùng liệt sĩ cách mạng bắt đầu từ năm 1945, nhưng bắt nguồn từ tục thờ danh nhân, chiến sĩ trận vong, thập loại cô hồn của dân tộc.
Trong dân gian tục thờ anh hùng liệt sĩ cách mạng mang tính tự phát, do tình cảm yêu mến. Gần đây các địa phương đã thống nhất dựng bia liệt sĩ, tổ chức tưởng niệm theo hình thức mới.
- Các lễ hội cộng đồng cư dân địa phương
Tín ngưỡng dân gian tuy có nhiều dạng sớm muộn, cao thấp, thuần phác hay lai tạp… nhưng tất cả đều quy về chữ "thành kính" tức là phải có sự thờ phương. Còn biểu hiện đức tin của con người đối với các bậc thần linh thì phải có những nghi thức cúng tế, tế lễ.
+ Lễ cúng đình: thông thường ở mỗi đình làng ở Vĩnh Long có 02 kỳ cúng chính là Hạ điền và Thượng điền. Trong đó cứ ba năm người ta
lấy ngày Hạ điền hoặc Thượng điền làm lễ Kỳ yên (tam niên đáo lệ kỳ yên). Mục đích của các kỳ đình là tế thành hoàng để cầu quốc thái dân an, xóm làng thịnh vượng no ấm.
+ Lễ cúng miếu: mang tính dân dã, cúng kiếng cũng mang tính dân gian. Tế lễ cúng miếu thì bình dị, không quy định khắc khe như cúng đình. Lễ vật cúng miếu thể hiện tấm lòng của bà con trong xóm; cả nam nữ, già trẻ đều có thể đến cúng lạy. Chương trình lễ cúng như chương trình cúng đình thu gọn.
1.2.2. Tín ngưỡng dân gian trong gia đình, dòng họ
- Tục thờ cúng tổ tiên
Tục người Khmer gởi hài cốt và cúng kiếng tại chùa. Quan niệm của người Khmer là làm phước để cầu nguyện cho tổ tiên. Do đó không có bàn thờ tổ tiên tại nhà.
Tục người Việt và người Hoa thờ cúng tổ tiên 5 đời hoặc 3 đời theo Nho giáo. Nhưng người Hoa ở tại địa phương thường chỉ có 2 hoặc 3 đời nên không xây dựng nhà từ đường như người Việt.
Giỗ kỵ của người Việt và người Hoa là hình thức tri ơn tổ tiên đồng thời cầu nguyện tổ tiên phù hộ con cháu.
Người Hoa có tục hiệp kỵ tổ tiên vào ngày đông chí (20/12 dương lịch khoảng tháng 10 âm lịch) lễ vật đặc trưng là quýt.
- Tục thờ các vị gia thần (thần bản gia)
Ngôi nhà nơi thờ phượng tổ tiên, và cũng là nơi để các thành viên gia đình sinh hoạt, giao tiếp. Ngoài ra trong gia đình người dân Vĩnh Long còn thờ các vị gia thần đứng đầu là Táo Quân, bên cạnh là Môn thần, Thổ Địa thần, Long thần, thần Tài… Trước sân nhà có bàn thờ ông Thiên (thần Thiên Quan), ở góc vườn thường có ngôi miếu thờ Thổ thần, cá biệt có gia đình thờ Chúa Xứ Thánh Mẫu (Bà Chúa Xứ).
- Tục thờ cúng ông Thiên (Thiên Quan tứ phước)
Bàn thờ ông Thiên có một tầng xây bằng gạch hoặc đơn giản hơn là một tấm gạch mỏng đặt trên đầu một khúc cây trồng ở giữa sân nhà
là bàn thờ thần Thiên Quan (gọi tắc là bàn ông Thiên). Cá biệt có loại bàn thờ ông Thiên xây bằng gạch đá hoặc bằng cây gỗ có hai tầng: tầng trên thờ Thiên hoàng, phần dưới thờ Địa kỳ (Thổ kỳ hoặc Hậu thổ). Theo truyền thống tổ chức cúng, vía theo Tam nguyên. Đêm rằm tháng giêng là đêm vía thần Thiên Quan, người dân thường thắp đèn suốt đêm để cầu thọ cha mẹ.
Người Hoa cũng có tục thờ Thiên Quan tứ phước nhưng đơn giản hơn người Việt.
- Tục thờ cúng Thổ thần và Bà Chúa xứ
Thổ Thần hoặc Thổ Chủ là một loại Thổ Địa (thần đất) khu vực gia cư, vườn tược. Miếu Thổ Thần làm theo kiểu nhà sàn bằng gỗ, lá hoặc xây gạch nền xi măng, mái ngói hay tôn. Hiện nay ở Vĩnh Long còn lưu giữ nhiều ngôi miếu Thổ Thần mà người dân địa phương gọi là "cái thủ chủ".
Đặc biệt, chỉ có một số gia đình thờ Bà Chúa Xứ (Chúa Xứ Thánh Mẫu) làm thần hộ vệ khu gia cư. Đây là những gia đình trước đây chỉ có ruộng canh tác nhưng không có vườn.
1.3. Tôn giáo
1.3.1. Đạo Phật
Đạo Phật ở Vĩnh Long mang tính chất tín ngưỡng hơn tôn giáo. Trong chùa ngoài việc thờ Phật và các vị bồ tát, đôi khi còn thờ các vị thần theo tín ngưỡng dân gian. Đạo Phật có mặt ở Vĩnh Long rất sớm. Đạo Phật truyền vào Vĩnh Long theo 2 con đường: do lưu dân mang theo và do các vị cao tăng từ các nơi đến Vĩnh Long dựng chùa và truyền đạo (con đường này muộn hơn). Các ngôi chùa đầu tiên rất đơn sơ, sau đó được trùng tu phát triển.
1.3.2. Đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài là tôn giáo do người Việt Nam sáng lập, ra đời năm 1926 tại Tây Ninh, với tên gọi đầy đủ là Đại đạo Tam kỳ phổ độ. Đạo Cao Đài thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Giáo lý của đạo Cao Đài là sự kết hợp các tín ngưỡng, tôn giáo nhất là tư tưởng "Tam giáo" (Phật, Lão, Nho). Hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Kinh kệ và giáo lý đều ghi chép bằng chữ quốc ngữ nên tín đồ dễ đọc, dễ hiểu.
1.3.3. Phật giáo Hòa Hảo
Phật giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (sau này tín đồ suy tôn là Đức Thầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ) sáng lập vào năm Kỷ Mão (1939) tại An Hòa tự, thuộc làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Phú, tỉnh An Giang).
Hình thức cúng của đạo Hòa Hảo đơn giản chỉ dùng bông hoa và nước lạnh tinh khiết.
Năm 1945, ông đã đến Vĩnh Long (Tam Bình, Vũng Liêm, Bình Minh) để truyền đạo. Sau chuyến đi này số lượng tín đồ Hòa Hảo ở Vĩnh Long tăng lên. Tuy nhiên cơ sở tín ngưỡng và tín đồ Hòa Hảo chủ yếu tập trung ở khu vực Cái Vồn và các vùng phụ cận của Bình Minh.
1.3.4. Đạo Công giáo
Năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long và các tỉnh miền Tây, nhà thờ đầu tiên ở Vĩnh Long được xây dựng, các hoạt động của nhà thờ ngày càng được tăng cường, thu hút nhiều giáo dân, lập thêm nhiều chi nhánh. Ngày 8/01/1938, giáo phận Vĩnh Long được thành lập theo sắc lệnh của Tòa thánh Vatican do Ngô Đình Thục phụ trách.
Qua các thời kỳ khác nhau, các giám mục luôn chú trọng việc xây dựng cơ sở tín ngưỡng, phát triển giáo dân: năm 1939 chỉnh trang Tòa Giám mục, năm 1944 xây dựng Tiểu Chủng viện, năm 1962 xây dựng Trung tâm truyền giáo, năm 1964 xây dựng Trung tâm hành hương Fatima, năm 1967 xây dựng nhà thờ Chánh tòa.
1.3.5. Đạo Tin lành
Đạo Tin Lành được truyền bá vào Vĩnh Long khá muộn. Đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, có một người tên Huấn sùng đạo và trở thành con chiên của đạo Tin Lành đầu tiên tại Vĩnh Long. Sau đó thêm vài người theo đạo và trở thành tín đồ Tin Lành. Đến năm 1954, ông Phạm Văn Huyên mướn một căn phố khu Cầu Tàu (khu vực khách sạn Cửu Long ngày nay) để lập một nhà nguyện. Lúc bấy giờ tín đồ còn thưa thớt, nên chỉ duy trì đến năm 1957 thì dời nơi khác. Lúc đầu nhà nguyện dời về gần Cầu Lộ (phường 2); sau đó Hội Thánh xây dựng nhà giảng tại địa điểm phường 9, thành phố Vĩnh Long ngày nay.
Đến nay, tại tỉnh Vĩnh Long có 11 chi hội, chủ yếu tập trung tại thành phố Vĩnh Long, Long Hồ, Tam Bình, Bình Minh.
2. Văn học ở Vĩnh Long
2.1. Văn học dân gian
2.1.1. Ca dao
Ca dao Vĩnh Long xuất hiện từ ngày người dân đặt chân đến đây khẩn hoang lập ấp. Nơi nào có mặt của người dân là nơi đó có lời ca tiếng hát đi cùng với công việc lao động hằng ngày. Ca dao là tiếng nói chân thành của quần chúng ghi nhận những bước chân thăng trầm, tình cảm của con người qua các thời đại của một vùng đất.
2.1.2. Dân ca
Dân ca Vĩnh Long xuất hiện cùng thời với xuất hiện ca dao. Dân ca nói lên cuộc sống tình cảm của người dân nơi đây qua các thời kỳ thăng trầm của lịch sử.
Vĩnh Long là một trong những chiếc nôi của dân ca Nam Bộ. Dân ca không chỉ đi vào đời sống sinh hoạt của nhân dân, mà văn hóa phi vật thể này còn biểu thị tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt của dân tộc. Đặc biệt là những đóng góp quan trọng của những bậc thức giả Vĩnh Long vào việc hình thành và phát triển loại hình ca nhạc tài tử và sân khấu cải lương.
2.1.3. Giai thoại, truyện dân gian
Cũng như truyện cổ tích tiếu lâm, tục ngữ…. giai thoại cũng là sản phẩm văn nghệ tiêu biểu thể hiện tình cảm, nếp sống của dân tộc. Những giai thoại là những câu chuyện có thật, có xuất xứ gắn liền với nhân vật, dòng họ, vùng đất… cụ thể. Qua truyền tụng trong nhiều tầng lớp dân gian, giai thoại trở thành những câu chuyện hay, lạ và thường là ngắn gọn.
2.1.4. Trò chơi dân gian
Trò chơi dân gian ở nông thôn tạm thời chia làm ba loại. Có trò chơi dành riêng cho trẻ em, có trò chơi dành riêng cho người lớn, nhưng cũng có trò chơi trẻ em và người lớn đều chơi được.
Trò chơi dành riêng cho người lớn, có độ khó và tư duy cao hơn như: bắn đạn, cờ tướng, đua xuồng, đá gà…
Trò chơi dân gian của trẻ em ở nông thôn so với người lớn nhiều hơn về số lượng và mang tính hồn nhiên, mộc mạc hơn. Qua trò chơi dân gian các em tăng khả năng quan sát về hiện tượng tự nhiên, các hoạt động xã hội; hình thành tình cảm với thiên nhiên, với lao động, với tập thể bạn bè; rèn luyện cho các em một cơ thể mềm mại, khỏe mạnh và nhanh nhẹn.
2.2. Văn học viết
2.2.1. Văn học Hán Nôm ở Vĩnh Long
Chữ Nôm ra đời từ trên cơ sở của chữ Hán. Nói cách khác, khi ta muốn viết và diễn giải chữ Nôm, cũng phải trải qua ngần ấy năm để học
chữ Hán. Nhưng do chữ Hán có sự bất tương đồng khi diễn giải từ tiếng Việt sang chữ Hán, nên chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không thể đáp ứng nổi.
Ở Vĩnh Long có Nguyễn Cư Trinh là nhà văn thơ Hán Nôm nổi tiếng. Ông có bài họa "Hà Tiên thập vịnh", "Đạm Am thi tập". Đặc biệt có hai bài "Long Hồ đại phong ký hoài" (Ghi nhớ một trận bão tại Long Hồ) và "Long Hồ ngọa bệnh" (Nằm bệnh tại Long Hồ) mô tả cảnh bão lụt và những cảnh khó khăn truyền miên của người đi khai hoang lập nghiệp lúc bấy giờ.
2.2.2. Văn học viết bằng chữ quốc ngữ ở Vĩnh Long
- Quá trình hình thành chữ quốc ngữ ở Nam Bộ
Chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành từ thế kỷ thứ XVII do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với văn hóa Việt Nam trên nhiều phương diện. Các giáo sĩ phương Tây đã vấp phải sự khác biệt về ngôn ngữ và văn tự khi truyền giáo ở Việt Nam, do đó họ đã dùng bộ chữ la tinh có bổ sung các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt. Đó chính là cơ sở đầu tiên hình thành nên chữ quốc ngữ, nhưng phải trải qua vài thế kỷ, liên tục được bổ sung cải tiến, chữ quốc ngữ mới có được giá trị khoa học vững chắc như ngày nay.
- Sự xuất hiện chữ quốc ngữ ở Vĩnh Long
Sự xuất hiện chữ quốc ngữ ở Vĩnh Long nằm trong xu hướng chung của sự lan tỏa, phát triển mạnh mẽ quốc ngữ trên vùng Nam Bộ. Đặc biệt là ứng dụng chữ quốc ngữ để xóa dốt, truyền bá văn hóa, nâng cao kiến thức phổ cập cho người dân.
Sau khi Hội Việt Nam Cánh mạng Thanh niên được thành lập ở Vĩnh Long (1927), việc học chữ quốc ngữ ngày càng khuyến khích rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, đông đảo người dân Vĩnh Long đã có ý thức học và sử dụng chữ quốc ngữ.
3. Nghệ thuật ở Vĩnh Long
3.1. Nghệ thuật diễn xướng
3.1.1. Ca ra bộ ở Vĩnh Long
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào đàn ca tài tử lan rộng khắp nơi ở Nam Bộ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ. Tại Vĩnh Long, ông Tống Hữu Định là phó Tổng Bình Long, người đời gọi ông là Phó Mười Hai (bởi ông là người con thứ 12 trong gia đình) rất yêu chuộng dân ca tài tử. Ông thường đi Mỹ Tho, ghé Minh Tân khách sạn ngủ trọ. Ông là người có khiếu văn chương và đam mê nghệ thuật, am tường nhạc tài tử, thấy những sáng kiến của ông Nguyễn Tống Triều có nhiều điểm thích hợp nên học hỏi đem về Vĩnh Long và mời những nhóm tài tử về nhà mình đàn ca và cùng họ trao đổi ý kiến để nâng dần hình thức đàn ca tài tử. Tất cả đã hợp soạn rồi sáng chế điệu ca, điệu bộ để tạo cho bài ca thêm sinh động, tạo sự hứng thú cho người nghe.
Lúc bấy giờ, ông Tống Hữu Định có một ban nhạc tài tử với đội ngũ nhạc công và một ca sĩ nổi danh là cô Ba Định. Ông Tống Hữu Định đã viết mấy tuồng thích hợp (nay gọi là tuồng xã hội). Về nghệ thuật khi lên sân khấu các diễn viên phải ăn mặc thích hợp với vai tuồng, phân công mỗi người một đoạn; khi ca hát hoặc đối đáp thì các diễn viên phải có động tác thích nghi. Cuối cùng bài Tứ đại oán "Bùi kiệm thi rớt trở về" đã được trình làng bằng hình thức ca ra bộ. Như vậy từ đờn ca tài tử, nghệ nhân đã sáng tạo ra lối Ca ra bộ (Ca có điệu bộ); sự thành công của loại hình này đã khích lệ và nhân rộng ra các tỉnh Nam Bộ.
3.1.2. Nhạc tế lễ
Nhạc lễ là dòng nhạc chỉ dùng trong các nghi lễ thuộc lĩnh vực Nho giáo gồm các việc: quan, hôn, tang, tế. Từ thế kỷ XVIII sau khi hình thành làng, xã, người dân đã chú trọng đến văn hóa truyền thống, trong đó có việc thực hành hiếu đạo qua hình thức tổ chức tang ma cho cha mẹ hoặc tổ chức lễ Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làng xóm thịnh vượng.
Nhạc lễ hiện nay còn giữ được nhạc tế thần Thành hoàng hoặc phúc thần và nhạc tế ai, tức nhạc tang lễ.
3.1.3. Nhạc tài tử ở Vĩnh Long
Nhạc tài tử hình thành trên nền nhạc dân gian, nhưng mang tính chất cổ điển, gắn với nhạc cung đình, do đó nhạc tài tử cũng có thể xem là nhạc thính phòng Nam Bộ, nhưng có phong cách tự do phóng túng, gần với dân gian hơn. Nhạc tài tử có 20 bài căn bản gọi là 20 bài tổ chia ra làm 4 nhóm: nam, bắc, oán, bài (lễ). Ngoài các bản "tổ", bản căn bản còn có các bản ngắn dùng để chuyển tiếp.
Từ cuối thế kỷ XIX, nhạc tài tử phát triển mạnh ở Vĩnh Long. Nhạc sĩ tài danh đi khắp các địa phương dạy đàn là Nguyễn Liên Phong; đặc biệt là Phạm Đăng Đàn, Trương Duy Toản ở Vũng Liêm viết hai tập bài ca (viết lời) đã xuất bản, gồm các bài "Bùi Kiệm thi rớt (Tứ đại oán). Tại tỉnh lỵ Vĩnh Long còn có Trần Quang Quờn (Kinh Lịch Quờn) là nghệ sĩ tài danh, cùng thời với Tống Hữu Định (Thầy Phó Mười Hai).
3.2. Nghệ thuật sân khấu
3.2.1. Nghệ thuật Hát bội ở Vĩnh Long
Ở Vĩnh Long vào đầu thế kỷ thứ XIX đã có khoảng vài trăm ngôi đình. Theo tục lệ địa phương các ngôi đình cứ 3 năm một lần phải tổ chức Kỳ yên hát xướng. Thời đó hát bội là loại hình độc chiếm sân khấu, đồng thời được xem là loại hình nghệ thuật phục vụ nghi lễ song song với việc phục vụ nhu cầu giải trí cho quần chúng.
Hát bội là loại hình nghệ thuật cách điệu từ nội dung cốt truyện, cử chỉ, điệu bộ, lời ca, tiếng hát, y phục, hóa trang. Xưa hát bội có các dạng sau: hát chập, hát thưởng, hát giàn, hát chầu. Tuồng hát có ba nhóm: tuồng văn và tuồng võ, tuồng nho và tuồng thầy, tuồng truyện và tuồng đồ.
3.2.2. Nghệ thuật Cải lương ở Vĩnh Long
Người có công đứng đầu cho buổi khởi đầu nghệ thuật cải lương, tức đưa nghệ thuật diễn xướng với lời ca và điệu bộ lên sân khấu, hình thành hình thức sân khấu cải lương như hiện nay là André Lê Văn Thận ở Sa Đéc[9]. Ông lập đoàn xiếc Tân Nam Việt, thực chất là đoàn nghệ thuật tổng hợp và đi lưu diễn nhiều nơi. Đầu chương trình là chương trình là xiếc, cuối chương trình hát bài "hội ca cầm" chúc tụng khán giả trước khi ra về. Xen kẽ các màn xiếc là các tuồng hát ca ra bộ.
Từ "ca ra bộ" cải tiến nâng cao đã trở thành chập "cải lương" tạo tiền đề cho gánh cải lương hoàn chỉnh ra đời vào khoảng nửa năm 1922 là gánh cải lương của thầy Năm Tú. Cùng thời với gánh thầy Năm Tú, còn có nhiều gánh cải lương khác ra đời như gánh của ông Tống Hữu Định, gánh của ông Kinh Lịch Quờn, gánh Kỳ Lân ban của bà Huyện Xây.
3.3. Mỹ thuật
3.3.1. Mỹ thuật dân gian
Ngoại trừ các thú vui tao nhã như trồng hoa kiểng, xây đắp non bộ… các loại hình chạm trỗ, sơn vẽ, chưng kết bông trái đều là loại hình nghệ thuật dân gian phục vụ tín ngưỡng lễ hội. Các loại hình nghệ thuật này thường cải tiến về mặt hình thức hoặc nội dung sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng. Tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy những nét riêng qua kỹ thuật tạo tác mang tính chất cha truyền con nối trong nghề nghiệp và thị hiếu của đa số quần chúng trong vùng.
3.3.2. Tranh dân gian
Tranh dân gian là tranh vẽ trên giấy dó hoặc giấy báo theo lối thủ công, thỉnh thoảng có vài bộ phận phải in nét nổi tô màu ngũ sắc, gồm có hai loại tranh thờ và tranh giải trí.
Tranh in mộc bản có các loại tranh thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, như: bùa nêu, tranh cò bay ngựa chạy, tranh đồ thế…
3.3.3. Chạm gỗ
Ở Vĩnh Long trừ các mặt hàng gỗ, chạm kích thước nhỏ như mâm, kỷ, bình phong… và một số bàn ghế phải đưa từ nơi khác đến, còn loại hình mỹ thuật chạm khắc trang trí đố cửa, cánh cửa, kèo cột, xuyên trính đều do các thợ chạm địa phương thực hiện. Các tác phẩm này thường bằng các loại gỗ quý được đánh bóng không sơn thếp. Riêng các hoành phi, bao lam, khánh thờ, hương án… được sơn son, thếp vàng để tăng vẻ rực rỡ.
3.3.4. Chưng kết
Chưng kết là chưng hoa kết trái thành những tác phẩm mỹ thuật để trang trí khi nhà có đám cưới, đám hỏi, cúng đình, cúng miễu. Chưng kết chọn lựa màu sắc tự nhiên phù hợp, không được dùng sơn, đặc biệt là không dùng các loại nguyên liệu nhân tạo như giấy, nylon. Có hai trường phái chưng kết: dùng nguyên liệu khô và dùng nguyên liệu tươi.
3.3.5. Mỹ thuật hiện đại
- Hội họa
Trước năm 1945, sản phẩm mang tính mỹ thuật được sáng tạo bởi một nhóm phường thợ. Ngày nay, tác phẩm mỹ thuật có thể do một người hay nhóm người thực hiện. Mỹ thuật đã dần đi vào hiện đại. Những loại hình tiêu biểu ở Vĩnh Long: Ký họa; Tranh sơn dầu; Tranh bột màu; Tranh lụa…
- Điêu khắc
Điêu khắc ở Vĩnh Long hình thành mạnh mẽ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975). Gồm có các loại hình: tượng chân dung, tượng công viên; tượng đài; phù điêu…
3.4. Tân nhạc
3.4.1. Vị trí Tân nhạc trong xã hội
Không rõ tân nhạc xuất hiện ở Vĩnh Long trong thời gian nào, nhưng phải đến giai đoạn sau năm 1954 mới lan rộng trong giới thưởng thức âm nhạc với tầm ảnh hưởng ban đầu còn khiên tốn.
Tân nhạc trong dòng chảy chung với các loại hình âm nhạc khác như nhạc tài tử, cải lương, khi xuất hiện được sự hưởng ứng của công chúng, tân nhạc vẫn có những chuyển biến hòa trộn với âm nhạc dân tộc địa phương tạo nên một nét riêng của tân nhạc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
3.4.2. Tân nhạc trong đời sống cách mạng
Thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta chủ trương dùng văn nghệ trong đó có tân nhạc phục vụ đời sống nhân dân và các lực lượng kháng chiến; đồng thời làm nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị. Đặc biệt, từ khi đoàn văn công Cửu Long được thành lập năm 1961, đời sống tân nhạc có bước chuyển biến rõ rệt. Ngoài các ca khúc được tiếp nhận, sử dụng từ nơi khác, các tác phẩm được chính các văn nghệ sĩ, chiến sĩ, nhân dân trong tỉnh sáng tác và được hưởng ứng một cách nhiệt liệt. Được trình diễn phục vụ nhân dân, chiến sĩ vùng kháng chiến và được sử dụng trong công tác địch vận.
3.4.3. Tân nhạc ở Vĩnh Long từ 1975 đến nay
Từ sau ngày miền Nam giải phóng 30/4/1975, một trào lưu âm nhạc mới được phổ biến mạnh mẽ ở vùng mới giải phóng trong tỉnh, đó là tiếp thu, sử dụng các ca khúc cách mạng (lúc ấy gọi là nhạc đỏ để phân biệt với nhạc vàng của đô thị miền Nam trước giải phóng). Song song với phong trào biểu diễn, thưởng thức âm nhạc cách mạng mang tính phong trào, quần chúng được thể hiện qua các buổi sinh hoạt cộng đồng, các buổi thi, hội diễn.
3.5. Nghệ thuật nhiếp ảnh - điện ảnh
3.5.1. Nghệ thuật nhiếp ảnh
- Nhiếp ảnh trước 1975
Nhiếp ảnh Vĩnh Long trong thời kỳ kháng chiến đã từng bước hình thành và phát triển. Thời kỳ này, các phương tiện tác nghiệp còn thô sơ, thiếu thốn; để có một bức ảnh ra đời phải rất công phu có thể xem như một cuộc chiến đấu để ghi nhận, lưu giữ ký ức cuộc sống trong thời kỳ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong thời kỳ này nhiếp ảnh Vĩnh Long đã kịp lưu giữ lại nhiều hình ảnh tư liệu quý giá về một thời kỳ lịch sử anh hùng trong giai đoạn kháng chiến.
- Nhiếp ảnh từ sau 1975
Từ sau ngày miền Nam giải phóng 30/4/1975, hoạt động nghệ thuật nhiếp ảnh từng bước đi vào ổn định với các hoạt động đồng bộ: sáng tác, triển lãm, giao lưu văn hóa ảnh, xuất bản tập ảnh… Nhiếp ảnh Vĩnh Long ngày một trưởng thành và phát triển, thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng cũng như có được những thành tích đáng khích lệ. Hoạt động nhiếp ảnh được mở rộng với nhiều câu lạc bộ sinh hoạt có hiệu quả.
Đến thế kỷ XXI, nghệ thuật nhiếp ảnh Vĩnh Long tiếp cận với nhiều phương tiện khoa học kỹ thuật, trang thiết bị ngày càng hiện đại, sự xuất hiện của máy ảnh kỹ thuật số… góp phần hình thành nên lực lượng sáng tạo mới có trình độ, bản lĩnh.
3.5.2. Điện ảnh
- Điện ảnh trước 1975
Trước năm 1975, các hoạt động điện ảnh vùng giải phóng của tỉnh chủ yếu là chiếu phim tuyên truyền lưu động phim ảnh cách mạng. Hoạt động sáng tác điện ảnh không thể thực hiện do không có phương tiện, con người và trình độ. Vì vậy, có thể nói do điều kiện thực tế cuộc sống, chiến đấu tại địa phương hoạt động điện ảnh chưa được triển khai theo chiều hướng sáng tạo tác phẩm.
Hoạt động điện ảnh ở thị xã Vĩnh Long lúc còn bị tạm chiếm cũng chỉ là trình chiếu phim ảnh được sản xuất từ Sài Gòn và nhập từ nước ngoài tại các rạp chiếu phim.
- Điện ảnh từ sau 1975
Từ năm 1975 đến cuối nhưng năm 80 của thế kỷ XX điện ảnh cách mạng trở thành món ăn tinh thần chủ đạo trong hoạt động tuyên truyền, hoạt động giải trí của đại bộ phận người dân Vĩnh Long. Hoạt động điện ảnh Cửu Long chủ yếu là trình chiếu, ban đầu phim điện ảnh chiếu ở rạp và các bãi chiếu phim khắp huyện thị, có đội chiếu phim lưu động phục vụ đến tận xã, ấp được đông đảo người dân nhiệt tình hưởng ứng. Sau đó bắt đầu thời kỳ đổi mới là làn sóng phim video làm thay đổi nhiều đến thói quen thưởng thức phim ảnh của người dân Vĩnh Long.
Năm 1992, Truyền hình Vĩnh Long phát sóng. Cũng từ đó Truyền hình Vĩnh Long bắt đầu hành trình chinh phục khán giả qua các chương trình của mình.
4. Văn nghệ Vĩnh Long
4.1. Văn nghệ Vĩnh Long trước cách mạng tháng Tám
Giữa hai lần thất thủ Vĩnh Long 1862 và 1867, thi đàn Văn Xương Các khởi xướng ở Vĩnh Long do đốc học Nguyễn Thông chủ trì, đã tập hợp các chí sĩ yêu nước như Phan Văn Trị, Học Lạc, Nhiêu Tâm, Bùi Hữu Nghĩa.
Văn hóa văn nghệ Vĩnh Long trước năm 1945 hòa nhập dòng văn chương quốc ngữ rất phát triển ở phía Nam. Hàng trăm tiểu thuyết ra đời ở Nam Bộ ảnh hưởng tới Vĩnh Long.
4.2. Văn nghệ Vĩnh Long trong kháng chiến chống Pháp
Cách mạng tháng Tám nổ ra bằng sự kiện giành chính quyền ngày 25/8/1945, báo Chiến thắng và Văn nghệ cứu quốc ra đời. Các đội tuyên truyền xung phong, đội văn hóa kháng chiến được thành lập vừa là lực lượng tuyên truyền vừa làm nồng cốt cho phong trào văn nghệ quần chúng. Văn hóa văn nghệ thời kỳ này có bước phát triển nhảy vọt.
Song song với tân nhạc, cải lương phát triển không kém, đỉnh cao là vở Máu thấm đồng Nọc Nạn được dựng phục vụ nhân dân, bộ đội trong vùng kháng chiến.
Về văn thơ có rất nhiều tác phẩm có giá trị như truyện thơ chú "Hai Neo" viết theo phong cách dân gian truyền khẩu, phản ánh về một gia đình nông dân thống khổ dưới hai tầng áp bức thực dân và phong kiến và kêu gọi họ đấu tranh.
4.3. Văn nghệ Vĩnh Long trong kháng chiến chống Mỹ
4.3.1. Giai đoạn 1954-1963
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tờ báo Đảng mang tên Hòa Bình thống nhất ra đời mỗi tháng 01 số, nhưng đến năm 1956 Mỹ - Diệm khủng bố ác liệt nên phải ngưng hoạt động. Đến tháng 9/1960, báo Kèn Giải phóng ra đời đánh dấu trưởng thành vượt bậc của báo chí tỉnh nhà.
Năm 1961, từ phong trào văn nghệ cơ sở của xã Mỹ thuận, Hòa Tân, tỉnh thành lập đoàn văn công Cửu Long. Lúc đầu dựng các tiết mục múa Mùa hoa nở, chập cải lương Anh Ba Gật, sau đó dựng vở Máu thắm đồng Nọc Nạn, Giải phóng Phật đường ra mắt công chúng năm 1963.
Thời ấy phương tiện thông tin đại chúng chưa phát triển, sự ra đời của đoàn văn công đã được nhân dân hết sức ngưỡng mộ, đáp ứng đúng tâm tư, tình cảm của người dân nên được ủng hộ nhiệt tình.
4.3.2. Giai đoạn 1963-1975
Từ năm 1964 đến giữa năm 1968, Ban Tuyên huấn lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực văn hóa văn nghệ và cử nhiều đợt, nhiều người lên Trung ương cục miền Nam đào tạo. Từ đó văn nghệ có bước nhảy vọt, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào cách mạng.
Để phục vụ cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, cuối năm 1967 đoàn văn công Cửu Long tách ra hai đoàn: một hoạt động ở Sa Đéc, một hoạt động ở Vĩnh Long. Ban đêm đoàn biểu diễn, ban ngày cùng du kích bao vây đồn bót, phát loa hát chương trình binh vận.
Năm 1973, sau hiệp định Paris, Đảng chỉ đạo khôi phục phong trào văn nghệ quần chúng đưa vào các lõm du kích, viết thơ mời đồng bào đô thị, vùng ven vào xem, qua đó vận động tham gia công tác, tham gia phong trào cách mạng. Từ đó phong trào văn nghệ quần chúng bùng lên ở nhiều xã.
4.4. Văn nghệ Vĩnh Long sau giải phóng
Năm 1976 phòng Văn nghệ được thành lập trực thuộc Ty Văn hóa thông tin. Năm 1983, Hội Văn học nghệ thuật Cửu Long được thành lập đã tập hợp giới văn nghệ sĩ sáng tác văn, thơ, nhạc, họa phục vụ cách mạng. Thể loại tiểu thuyết, có hàng loạt tác phẩm ra đời như: Bên dòng sông thơ mộng, Bình Minh trong đêm, cây sầu đâu sinh đôi, cây Bờ Lời bông trắng,… gây tiếng vang trong giới văn nghệ; lĩnh vực âm nhạc xuất hiện nhiều bài hát có giá trị như: Hồ Thị Nhâm sống mãi, hát về cây lúa, Mẹ Tam Bình, hát với Long Hồ,…; những bài thơ được phổ nhạc nổi tiếng như: mùa xuân bên cửa sổ, như cánh hoa mai,… Loại hình sân khấu cải lương được ưa chuộng, tỉnh có 02 đoàn cải lương: đoàn văn công và đoàn cải lương Bông Hồng Vàng đã dàn dựng thành công nhiều vở như: Gặp lại người cha, Trở lại mái nhà xưa, Người đẹp vườn dâu, Ký họa người đồng bằng,…
Đầu những năm 1990, xuất hiện các loại hình văn hóa nghệ thuật mới như băng video, truyền hình lấn át cải lương, phim nhựa, ở thị xã Vĩnh Long có 03 rạp chiếu phim nhựa, 01 nhà hát (nhà văn hóa thị xã Vĩnh Long) và hàng chục đội chiếu phim lưu động… Sinh hoạt văn nghệ quần chúng chủ yếu của các phòng văn hóa huyện, thị, Nhà văn hóa trung tâm tổ chức vào các ngày lễ.
Đến đầu thế kỷ 21, nhiều loại hình giải trí nghe nhìn, game show, Internet phát triển mạnh mẽ đã từng bước đáp ứng nhu cầu về văn nghệ, giải trí cho nhân dân.
5. Thông tin – tuyên truyền Vĩnh Long
5.1. Công tác thông tin – tuyên truyền trước 1975
5.1.1. Công tác thông tin trước khi có Đảng
Đầu thế kỷ thứ XIX, Vĩnh Long chưa có tổ chức và bộ máy quản lý của nhà nước đối với hoạt động văn hóa thông tin, chỉ có hình thức thông tin qua hò vè, tiếng trống mõ, bắn pháo, đốt lửa. Sau đó phu trạm dùng tiếng mõ báo động, rồi dùng loa phát tin, đây là hình thức đầu tiên có người hoạt động chuyên nghiệp về thông tin.
Đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp chuyển sang hình thức mới đó là tổ chức phong trào Đông Du, Duy Tân và Thiên địa hội, xuất hiện hình thức bí mật tuyên truyền vận động sâu rộng chống thực dân Pháp. Các nhà Nho yêu nước Vĩnh Long đã có nhiều sáng tác bảo vệ nền văn hóa, âm nhạc dân tộc, không để thực dân áp đặt.
5.1.2. Công tác thông tin – tuyên truyền từ khi có Đảng đến cách mạng tháng Tám 1945
Sau khi hợp nhất ba tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Vĩnh Long đã tổ chức được 5 chi bộ Đảng. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Thiệt (Bí thư chi bộ Ngã tư Long Hồ) phát động ba cuộc tuyên truyền, tổ chức míttinh, rãi truyền đơn, tổ chức diễn thuyết, biểu tình tuần hành. Nội dung chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lên án đế quốc làm bần cùng hóa nhân dân, chống tăng thuế, lôi kéo nhiều tầng lớp quần chúng tham gia.
Ngày 25/8/1945, Vĩnh Long nổ ra cuộc khởi nghĩa quy mô toàn tỉnh với băng cờ rợp đường phố. Lần đầu tiên xe thông tin lấy của địch dẫn đầu đoàn biểu tình có trang bị băng, khẩu hiệu.
Trong không khí phấn khởi của toàn dân, nhiệm vụ mới của công tác thông tin tuyên truyền được đặt ra rất nặng nề. Đó là công tác phát động học tập trong cán bộ và nhân dân, nhất là các tổ chức Đảng, đoàn thể, Thanh niên tiền phong, Thanh niên cứu quốc; phát động tinh thần đoàn kết, động viên khắc phục nạn đói, tương thân tương ái, hưởng ứng thực hiện "tuần lễ vàng"… Công tác thông tin tuyên truyền mở rộng từ tỉnh lỵ đến nông thôn, trên đường lộ, dưới sông có sức thu hút lớn, được nhân dân chăm chú theo dõi.
5.1.3. Công tác thông tin trong kháng chiến chống Pháp
Dấu ấn sâu sắc giai đoạn 1930-1945 ở Vĩnh Long là sự xuất hiện hàng loạt các tờ báo cách mạng như: Lao khổ, Công Nông Binh,…
Cuối năm 1945, thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ và chiếm Vĩnh Long, tỉnh đã xuất bản tờ báo "Chiến đấu" với nội dung động viên toàn Đảng toàn dân quyết tâm chiến đấu thực hiện mục tiêu, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, khôi phục phong trào cách mạng tỉnh nhà.
Năm 1947, Ty Thông tin tuyên truyền được thành lập và xuất bản tờ báo Chiến Thắng ra hàng tháng với nội dung phong phú như đưa tin về chiến sự, phát huy quần chúng tham gia xây dựng ấp xã chiến đấu, bình luận chính trị, trao đổi nghiệp vụ… Sau đó theo yêu cầu phát triển, Ty xuất bản tờ Thông tin ra hàng tuần kịp thời cung cấp thông tin cho cơ sở và coi đó là tài liệu tuyên truyền.
5.1.4. Công tác thông tin trong kháng chiến chống Mỹ
Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc giải phóng, miền Nam sau 2 năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng Mỹ và tay sai cố tình phá hoại hiệp định, phá hoại tổng tuyển cử, lập bộ máy tay sai phản động, ra sức lập khu trù mật, kìm kẹp, khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên truyền lúc này là vận động đấu tranh cho hòa bình thống nhất nước nhà.
Ra tờ báo Hòa bình thống nhất là tài liệu cơ bản làm nội dung tuyên truyền từ trong nội bộ và quần chúng.
Từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1959), công tác thông tin tuyên truyền tăng về số lượng và
chất lượng. Về phương tiện ra báo Kèn Giải phóng (thay báo Hòa Bình thống nhất) ra hàng tháng, tờ Tin tức ra hàng tuần. Nội dung công tác thông tin, tuyên truyền là vận động toàn dân đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tự vệ hỗ trợ diệt ác phá kềm, giành quyền làm chủ. Tích cực củng cố xây dựng lực lượng, đặc biệt là xây dựng lực lượng vũ trang, chính trị, binh vận kết hợp ba mũi giáp công đánh địch. Động viên nhân dân đóng góp sức người, sức của cho cách mạng, lên án, vạch trần tội ác địch.
Năm 1975, công tác thông tin tuyên truyền tập trung vào mục tiêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Ở thành thị, thị trấn dân tuyên truyền dân, binh sĩ tuyên truyền lẫn nhau theo lời kêu gọi hướng dẫn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng "làm theo âm mưu địch là có lỗi cho bản thân và cách mạng".
5.2. Công tác thông tin – tuyên truyền sau 1975
5.2.1. Công tác thông tin – tuyên truyền thời kỳ bao cấp
- Công tác thông tin
Tỉnh có báo Đảng, tiếng nói của Đảng bộ Vĩnh Long do Tỉnh ủy chỉ đạo; Đài Phát thanh - truyền hình trực thuộc UBND tỉnh... tuyên truyền hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.
Về cơ sở vật chất tỉnh có hai đội xe thông tin lưu động, phòng triển lãm, đội chiếu phim lưu động, chủ yếu là chiếu phim và tuyên truyền cổ động.
Ở huyện có đội thông tin lưu động, đội chiếu bóng, đài truyền thanh, mỗi xã có đội thông tin, đội văn nghệ quần chúng.
Nội dung tuyên truyền thành tựu 30 kháng chiến thắng lợi, tuyên truyền về chính sách đại đoàn kết dân tộc, tuyên truyền khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định tình hình, ổn định đời sống. Tuyên truyền về phát triển kinh tế, xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh... Ngoài ra, còn nêu gương người tốt việc tốt trong kháng chiến, cũng như trong quá trình xây dựng đất nước, tôn vinh biết ơn anh hùng liệt sĩ...
- Công tác văn hóa
Tỉnh cải tạo ba rạp hát và chiếu bóng phục vụ các loại hình văn hóa nghệ thuật; huyện, thị xây dựng nhà văn hóa, bãi chiếu bóng. Công tác văn hóa văn nghệ được chú ý; các đoàn cải lương, ca múa tổng hợp, đoàn Khmer... hàng năm phục vụ trên 200.000 lượt quần chúng.
Các đội văn nghệ quần chúng, các đội thông tin cổ động đi vào vùng sâu cổ vũ phong trào quần chúng xây dựng cuộc sống mới, ca ngợi lao động là vinh quang, tích cực khắc phục khó khăn, thi đua sản xuất là yêu nước.
Nhìn chung, công tác văn hóa thông tin sau 10 năm giải phóng đã làm cho nhân dân chuyển biến lớn về tư tưởng, nhận thức được đường lối xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa; đề cao tinh thần yêu nước, làm chủ đất nước phải có hành động xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh, còn giáo dục lối sống, nếp sống, đạo đức cách mạng; lên án mọi thói hư tật xấu, thiếu tinh thần trách nhiệm, lười biếng, ăn bám xã hội.
5.2.2. Công tác thông tin – tuyên truyền thời kỳ đổi mới
- Công tác thông tin
Giữa năm 1992, tỉnh Cửu Long chia thành 02 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long quyết định phân công Ban lãnh đạo lâm thời Báo Vĩnh Long ổn định tổ chức và xuất bản báo đúng định kỳ. Báo gồm 8 trang, mỗi kỳ 4.000 tờ, phát hành tận xã. Đài Phát thanh
- Truyền hình từ chỗ phát sáng, trưa, chiều, tối với thời lượng 6 tiếng nay tăng 24/24 với 04 kênh phát sóng liên tục. Hệ thống thông tin mạng được hoàn chỉnh từ tỉnh, huyện và xã, phường.
Ngoài các hình thức trên, công tác thông tin được phát triển thông qua sự phối hợp đa dạng sinh động như tổ chức triển lãm, hội thảo, giới thiệu thành tựu khoa học… là hình thức thông tin quảng bá các vấn đề kinh tế chính trị, xã hội… ra quần chúng.
- Công tác văn hóa
Tỉnh ủy đã có Chỉ thị số 01 về xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực quần chúng nhằm thực hiện tốt các nội dung: chất lượng, hiệu quả về sản xuất, hưởng thụ văn hóa thông tin ngày càng tăng, chất lượng đời sống tốt hơn, thực hiện quan hôn, tang tế ngày càng khoa học, tiến bộ trong điều kiện mới, hợp tình hợp lý.
Cơ sở vật chất về văn hóa được quy hoạch, quản lý, tôn tạo, giới thiệu và phát huy. Tỉnh đã tu chỉnh bảo tàng, xây dựng các khu di tích, tượng đài. Các huyện đều có phòng trưng bày truyền thống. Các ngành trong tỉnh và các huyện, thị thành phố, các xã, phường, thị trấn quan tâm viết lịch sử truyền thống, lịch sử đảng bộ của ngành và địa phương, đơn vị mình.
Phong trào hoạt động văn nghệ quần chúng gắn liền với cơ sở địa phương và đơn vị, ban, ngành được sự quan tâm đặc biệt. Hệ thống thư viện trong tỉnh không ngừng củng cố và tăng cường; cấp huyện, thị đều có thư viện, cấp xã phường có bưu điện văn hóa, phòng đọc sách.
IV. NHỮNG DI TÍCH, LỄ HỘI TIÊU BIỂU CỦA TỈNH VĨNH LONG
- Những di tích tiêu biểu
Hiện nay, toàn tỉnh Vĩnh Long có hơn 700 di tích, trong đó có 59 di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, gồm 11 di tích cấp quốc gia và 48 di tích cấp tỉnh. Các di tích tiêu biểu của tỉnh:
1.1. Khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng
Khu tưởng niệm tọa lạc tại ấp Long Thuận A, xã Long Phước, huyện Long Hồ, được khởi công xây dựng ngày 02 tháng 10 năm 2000 và khánh thành ngày 11 tháng 06 năm 2004 nhân dịp 92 năm ngày sinh của đồng chí Phạm Hùng.
Cuộc đời và sự nghiệp của một nhà cách mạng trung kiên - mẫu mực Phạm Hùng đã được đất nước, quê hương và nhân dân muôn đời tưởng nhớ. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã xây dựng khu tưởng niệm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng để giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng với tổng diện tích: 3,2 ha, gồm các hạng mục chính:
- Nhà lễ tân: diện tích 300m2, là nơi đón tiếp khách đến tham quan khu tưởng niệm.
- Nhà tưởng niệm: diện tích 1.050m2, là nơi thắp hương tưởng niệm Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
- Nhà trưng bày: diện tích 670m2, là nơi trưng bày hình ảnh - tư liệu - hiện vật chuyên đề: thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
Ngoài ra, còn có ba hạng mục ngoài trời được phục chế theo tỷ lệ 1/1 gồm: phòng biệt giam đồng chí Phạm Hùng tại Côn Đảo từ 1934 đến 1945, ngôi nhà làm việc của đồng chí Phạm Hùng tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam (tỉnh Tây Ninh) từ 1967 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 và căn phòng làm việc của đồng chí Phạm Hùng tại số 72 Phan Đình Phùng - Hà Nội từ năm 1958 đến năm 1967 và từ năm 1978 đến năm 1988. Hàng năm, di tích đón hàng chục ngàn lượt khách đến tham quan, chiêm bái.
Tháng 6/2012, Khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được đón nhận bằng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.
1.2. Khu tưởng niệm cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt
Khu tưởng niệm cố thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt được khởi công xây dựng vào ngày: 06/9/2010 và khánh thành vào ngày 23/11/2012 nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt (23/11/1922-23/11/2012). Với tổng diện tích 17.000m2, tọa lạc tại số 10, đường Nam Kỳ khởi nghĩa, khóm 2, thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Về tổng thể, khu tưởng niệm là cụm công trình phát triển, kế thừa từ những công trình sẵn có; kiến trúc theo lối 4 mái dốc đơn giản, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, tạo thành tổng thể kiến trúc mở truyền thống, giản dị; tạo nên nét riêng đặc biệt, gần với phối cảnh của ngôi nhà vườn Nam Bộ truyền thống. Về phương diện phong tục, truyền thống tâm linh công trình khai thác 2 trục trọng tâm: Trục Đông – Tây. Khởi đầu của trục nằm ở khu nhà nghỉ của đồng chí Võ Văn Kiệt lúc sinh thời, hướng thẳng tới di tích hồ Vũng Linh, tượng đài Ngôi sao và bia Nam Kỳ khởi nghĩa; Trục Bắc – Nam: hướng về phương Nam mở ra một trục sinh khí, trục của đời sống, phát sinh, phát triển.
- Nhà trưng bày: có diện tích 550m2, là nơi trưng bày hình ảnh – hiện vật về thân thế và sự nghiệp của Cố Thủ tướng Chính Phủ Võ Văn Kiệt.
- Nhà tưởng niệm: có diện tích 126,7m2, là nơi thắp hương tưởng niệm Cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt.
- Nhà nghỉ: Có diện tích 212m2, là nơi nghỉ ngơi của Cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt khi về làm việc với quê hương Vũng Liêm, Vĩnh Long.
Hằng năm tại di tích có hai lễ viếng: Lễ giỗ được tổ chức vào mùng 8 tháng 5 âm lịch và lễ sinh nhật được tổ chức vào ngày 23 tháng 11 dương lịch.
Khu tưởng niệm chưa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa.
1.3. Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tọa lạc tại ấp Mỹ Phú 1, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Được khởi công xây dựng ngày 24/11/ 2013 và khánh thành vào ngày 18/5/2015.
Khu lưu niệm có diện tích 16.080m2 , bao gồm các hạng mục:
- Nhà tưởng niệm: là ngôi nhà trung tâm của toàn Khu lưu niệm, có diện tích 150m2.
- Nhà trưng bày: trưng bày tư liệu hình ảnh, hiện vật chuyên đề thân thế và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ trần Đại Nghĩa, diện tích 395m2.
- Thư viện: bao gồm thư viện sách với hơn 2.000 đầu sách về tất cả các lĩnh vực và Trung tâm tích hợp dữ liệu về khoa học và công nghệ, có thể truy cập thư viện điện tử về Giáo sư, viện sĩ Trần Đại Nghĩa, thư viện điện tử khoa học và công nghệ phát triển Nộng thôn mới, thư viện điện tử khoa học và công nghệ Việt Nam và thế giới, diện tích 379m2 .
- Nhà lễ tân, nhà quản lý: có phòng làm việc và phòng tiếp đón, hướng dẫn khách tham quan, diện tích 379m2.
- Nhà hội trường: có sức chứa hơn 200 người, dùng để chiếu phim, sinh hoạt, hội họp, hội thảo: diện tích 395m2.
- Quảng trường: rộng 2.000m2.
- Các hạng mục phụ trợ: cổng di tích, hàng rào bảo vệ, bãi đậu xe khách, hồ bán nguyệt,đài phun nước, cầu kiều dẫn vào nhà tưởng niệm, chòi nghỉ, …
Hàng năm, tại khu lưu niệm tổ chức lễ kỷ niệm ngày mất của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch và lễ sinh nhật vào ngày 13 tháng 9 dương lịch.
Khu lưu niệm chưa công nhận là di tích lịch sử -văn hóa.
1.4. Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
Văn Thánh Miếu Vĩnh Long ở tại làng Long Hồ, tổng Long An, huyện Vĩnh Bình, nay thuộc phường Tư, thành phố Vĩnh Long. Công trình khởi công từ mùa đông năm Giáp Tý (1864) và hoàn thành vào mùa thu năm Bính Dần (1866).
Sau khi chiếm Vĩnh Long, thực dân Pháp định phá Văn Thánh Miếu. Ông Bá hộ Trương Ngọc Lang đứng ra tranh thủ với quân viễn chinh giữ lại công trình văn hóa này. Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được trùng tu, tôn tạo các công trình phụ vào các năm 1872, 1903, 1914, 1933, 1963, 1994 và gần đây nhất là tháng 6/2006.
Cổng tam quan di tích xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Chiếc cổng này đơn giản nhưng mỹ thuật, có nét đặc biệt so với những chiếc cổng khác. Sau cổng là thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút như hai hàng lính áp hầu. Phía trước chính diện, giữa thần đạo là ba tấm bia đá. Đáng kể nhất là tấm bia do Phan Thanh Giản viết trước khi tuẩn tiết (do ông Trương Ngọc Lang lập năm 1872). Tấm bia thứ nhì kỷ niệm ông Tống Hữu Định và giới trí thức trùng tu, tái thiết ngôi miếu năm 1903. Văn Xương Các làm theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Trên gác là nơi cất sách và thờ Văn Xương Đế Quân - vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành. Bài vị Văn Xương Đế Quân đặt trong khám thờ được chạm trổ, sơn thếp. Tầng dưới Văn Xương các thờ Gia Định Sử sĩ Sùng Đức Tiên sinh Võ Trường Toản và Khâm sai Kinh lược sứ Phan Thanh Giản.
Khu vực chính của Văn Thánh Miếu gồm Đại Thành Điện và hai ngôi miếu ở trước sân đâu mặt nhau gọi là Tả vu và Hữu vu. Khu vực này có tường hoa bao bọc, chỉ có thể ra vào bằng cửa Kim Thanh và Ngọc Chấn. Chính điện làm theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Bên trong bài trí đơn giản, giữa khánh thờ bài vị "Đại Thành Chí Thánh Tiên sư Khổng Phu Tử" và bài vị bốn vị đứng vào hàng đệ tử của ngài gọi là "Tứ Phối".
Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia vào ngày 25 tháng 3 năm 1991 (Quyết định số 0557 - QĐ ngày 25/3/1991).
