I. TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN VĨNH LONG TRƯỚC KHI CÓ ĐẢNG RA ĐỜI
1. Những cuộc chiến đấu chống quân Xiêm xâm lược (từ năm 1770 đến năm 1833)
Tháng 9 năm Canh Dần (1770), khi quân xâm lược Xiêm do Phu Nhã Tân cầm đầu vây trấn Tân Thành (Hà Tiên), rồi tiến chiếm Cần Thơ, lúc này Tống Phước Hiệp đã cùng các tướng lĩnh tập trung lực lượng và huy động Nhân dân Long Hồ Dinh, xuất quân đánh đuổi toàn bộ quân Xiêm về nước.
Tiếp đó vào tháng 6 năm 1784, nhân cơ hội Nguyễn Phúc Ánh cầu cứu quân đội nước Xiêm, giúp đánh lại phong trào Tây Sơn, vua Xiêm đã cử Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 20.000 quân và 300 chiến thuyền theo hai đường thuỷ bộ tiến quân vào nước ta. Trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm lần này, nhân dân Long Hồ Dinh đã ghi dấu chiến công oanh liệt khi cùng nghĩa quân Tây Sơn đánh bại liên quân Xiêm - Nguyễn Ánh vào ngày 13 tháng mười năm Giáp Thìn (1784) tại Vàm sông Măng Thít (nay thuộc xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít), làm tổn thất nhiều quân Xiêm và tướng giặc là Thác Sĩ Đa bị thương nặng. Sau đó, nhân dân Long Hồ Dinh còn tiếp tục tham gia cùng quân Tây Sơn đánh bại hoàn toàn lực lượng quân đội nước Xiêm bằng trận thuỷ, bộ binh tại Rạch Gầm-Xoài Mút (thuộc tỉnh Tiền Giang hiện nay) vào cuối năm 1784 đầu 1785.
Đến năm 1833, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại triều đình và cầu viện quân Xiêm. Một lần nữa quan binh và Nhân dân Vĩnh Long đã đánh lui quân Xiêm ra khỏi Nam Kỳ bảo vệ vững chắc vùng đất cực nam Tổ quốc.
2. Phong trào yêu nước của Nhân dân Vĩnh Long chống thực dân Pháp xâm lược (từ năm 1862 đến năm 1930)
Ngoài 3 cuộc chiến thắng quân Xiêm, nhân dân Vĩnh Long còn tiến hành ngăn chặn 2 cuộc xâm lược của quân Pháp. Vào tháng 02/1859, khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định lần thứ I, Nhân dân Vĩnh Long và các vùng phụ cận đã tình nguyện đóng góp tiền của và con người để cùng với các quan quân địa phương tham gia chống giặc.
Ngày 20 tháng 5 năm 1862, sau khi đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long với 11 tàu chiến và hơn 1.000 binh lính. Thành Vĩnh Long thất thủ, lúc này quan quân triều đình đã bỏ thành nhưng tại nhiều nơi trong tỉnh, dân chúng đã tự đứng ra tổ chức các lực lượng dân dũng (dân ấp, dân lân), sẵn sàng ứng nghĩa đánh giặc giữ làng. Nhờ đó, vào ngày 5/6/1862 (nhằm 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất), thực dân Pháp đã phải ký hiệp ước hứa trả lại Vĩnh Long, triều đình nhà Nguyễn ký nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp.
Ngày 20 tháng 7 năm 1867, quân Pháp đánh chiếm thành Vĩnh Long lần thứ hai; sau đó là An Giang, Hà Tiên. Toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh rơi vào tay thực dân Pháp.
Ngay sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, hoạt động chống Pháp của Nhân dân Vĩnh Long nổ ra liên tục, hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa trong vùng. Tiêu biểu như:
- Cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Trị (Vũng Liêm) diễn ra vào hai năm 1871 - 1872 do Đốc binh Lê Cẩn, Nguyễn Giao và Phó Mai lãnh đạo. Xuất thân từ nông dân, nhưng Nguyễn Giao là người có đọc sách thánh hiền. Gặp lúc vận nước suy vong, ông đứng lên kêu gọi Nhân dân trong vùng và các sĩ phu yêu nước nổi dậy khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Còn Lê Cẩn, nguyên là một võ quan nhà Nguyễn, làm đến chức Đề đốc, nên còn được gọi là Đốc binh Lê Cẩn. Ông ly khai, không phục tùng lệnh triều đình đầu hàng giặc Pháp, tham gia khởi nghĩa cùng Nguyễn Giao và trở thành thủ lĩnh của nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa được đông đảo tầng lớp Nhân dân hưởng ứng.
Dọc theo vàm rạch đổ ra sông Cổ Chiên, đường vào quận lỵ Vũng Liêm, nghĩa quân đào hào lũy, đốn cây lớn ngăn sông, đắp đập. Vào một đêm cuối tháng 11/1871, nghĩa quân đánh vào dinh quận Vũng Liêm và giết tên "chủ quận" ác ôn Hồ Thiện Thực. Sau vụ việc chấn động này, giặc Pháp mở cuộc đàn áp khủng bố dữ dội, nhưng vẫn không làm nghĩa quân nao núng. Tên tay sai Tôn Thọ Tường thay thế tên chủ quận về trấn nhậm Vũng Liêm, âm mưu bình định vùng đất này. Tường chiêu dụ dân chúng không manh động, nên an cư lạc nghiệp, Đại Pháp đến đây là để khai hóa dân Nam, phát triển non nước phú cường. Ai theo Tây sẽ được hưởng vinh hoa, phú quý, kẻ nào chống lại sẽ chịu cảnh đầu rơi, máu đổ. Những lời tuyên truyền giả dối của giặc làm không ít người hoang mang, dao động, nhưng những người yêu nước, nghĩa binh của Lê Cẩn, Nguyễn Giao kiên quyết đánh Tây tới cùng. Lê Cẩn nghĩ kế trá hàng và ông viết thư hẹn tham biện Alix Salicetti đến tại Cầu Vông để chứng kiến nghĩa quân đầu hàng. Ngày 15/02/1872 Alix Salicetti ngạo mạn, chủ quan dẫn quân đến. Bọn chúng lọt vào ổ phục kích của nghĩa quân. Nghĩa quân và quân Pháp đánh giáp lá cà. Lê Cẩn và tham biện Pháp vật lộn, dìm nhau dưới nước và cả hai cùng chết. Quân Pháp đi theo bị tiêu diệt hoàn toàn.
Sau vụ việc gây chấn động cả Nam Kỳ lúc ấy, thực dân Pháp cay cú trả thù, đàn áp dã man Nhân dân Vũng Liêm. Ngày 23/02/1872, Tổng đốc Trần Bá Lộc dẫn quân lính càn quét, ruồng bố và thảm sát cả 500 người dân vô tội.Trước tình hình đó,
Nguyễn Giao đành tạm lánh sang vùng thuộc huyện Càn Long ngày nay. Ngày 10-5-1885, ông bị Pháp bắn chết trên sông Cổ Chiên. Cuộc khởi nghĩa của Lê Cẩn, Nguyễn Giao dù thất bại, nhưng vẫn là tấm gương anh hùng bất khuất, người đời vô cùng ngưỡng mộ và kính phục.
- Phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu được tiếp nhận một cách nồng nhiệt bởi những trí thức như Nguyễn Ngươn Hanh, Trần Phước Định, Lý Trung Chánh, Phan Văn Tòng…
II. PHONG TRÀO CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN VĨNH LONG TỪ KHI CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG
1. Sự ra đời của chi bộ cộng sản đầu tiên và Tỉnh ủy Vĩnh Long
Từ sau năm 1920, tư tưởng cách mạng vô sản được truyền bá vào đất Vĩnh Long. Tháng 6/1927, Kỳ hội Nam kỳ cử đồng chí Nguyễn Văn Côn – Ủy viên Ban Chấp hành Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đến Vĩnh Long gây dựng cơ sở Hội. Đến đầu năm 1928, Chi hội Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Ngã Tư Long Hồ được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt lãnh đạo. Đây là Chi hội Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Vĩnh Long.
Tháng 7/1929, Ban Chấp hành Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ tiến hành Đại hội và tuyên bố giải thể để chuyển thành An Nam Cộng sản Đảng. Ban Chấp hành lâm thời An Nam Cộng sản Đảng được thành lập do đồng chí Châu Văn Liêm làm Bí thư.
Tháng 8/1929, Chi bộ đầu tiên của An Nam Cộng sản Đảng ở Vĩnh Long được thành lập tại Ngã Tư Long Hồ có ba đồng chí là Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Hữu Đức và Nguyễn Văn Nhung, do đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm Bí thư. Đây là tổ chức Cộng sản đầu tiên ở Vĩnh Long. Sau một thời gian không lâu, Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng đã phát triển thêm hai đảng viên mới là Nguyễn Trí và Phạm Đoài, nâng tổng số đảng viên của chi bộ lên năm đồng chí.
Bằng nỗ lực của mình, Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng đã tích cực hoạt động và tổ chức thêm những Chi bộ ở các quận Tam Bình, Vũng Liêm, Châu Thành và Trà Ôn. Đến cuối năm 1929, Vĩnh Long có năm Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng.
Tháng 02/1930, các chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở Vĩnh Long được chuyển thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ tháng 5/1930 đến cuối năm 1930, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhân dân các vùng Phú Đức, Long An (quận Châu Thành, nay là huyện Long Hồ), gò Cỏ Ống, Mỹ Thạnh Trung, Loan Tân, Phú Lộc, Cái Ngang, Ba Chùa, Tường Lộc (huyện Tam Bình), Hòa Bình, Hựu Thành, Thới Hòa… (huyện Trà Ôn) liên tục nổi dậy mít tinh, biểu tình đòi dân sinh, dân chủ, chống chế độ phong kiến, mừng Đảng, ủng hộ ngày Quốc tế Lao động, mừng Cách mạng Tháng Mười Nga.
Trong quá trình lãnh đạo Nhân dân đấu tranh, nhiều chi bộ phát triển được đảng viên và thành lập thêm một số chi bộ mới. Đầu năm 1931, Vĩnh Long có 12 chi bộ:
- Quận Châu Thành có 01 chi bộ
- Quận Tam Bình có 05 chi bộ
- Quận Vũng Liêm có 04 chi bộ
- Quận Trà Ôn có 01 chi bộ
- Quận Chợ Lách có 01 chi bộ
Trước sự lớn mạnh của các tổ chức đảng, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ đạo thành lập Tỉnh ủy. Tháng 02/1931, Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Vĩnh Long được thành lập (Tỉnh ủy Vĩnh Long đầu tiên), do đồng chí Ngô Văn Chính làm bí thư (đồng chí Ngô Văn Chính là Đặc ủy Hậu Giang, phụ trách 2 tỉnh Vĩnh Long và Sa Đéc), đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm Phó Bí thư. Sau một tuần, Xứ ủy rút đồng chí Ngô Văn Chính về Xứ ủy, đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm Bí thư.
2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo nhân dân chống thực dân Pháp giai đoạn 1930 - 1939
Do phong trào đấu tranh của nhân dân ngày một dâng cao, nên từ đầu năm 1931, địch tăng cường các hoạt động khủng bố, truy lùng những đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng. Ngày 05/4/1931, địch bao vây cơ quan Tỉnh ủy Vĩnh Long tại Cầu Lầu (nay thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long), đồng chí Nguyễn Văn Nhung và một số tỉnh ủy viên bị bắt. Đầu tháng 5-1931, Tỉnh ủy Vĩnh Long được củng cố, cử đồng chí Nguyễn Văn Tiễn làm Bí thư, đồng chí Đặng Văn Quang làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.
Đầu tháng 6/1931, địch bao vây cơ quan Tỉnh ủy ở Ngã ba Cần Thơ (nay thuộc phường 2, thành phố Vĩnh Long), đồng chí Nguyễn Văn Tiễn và các tỉnh ủy viên bị bắt. Đến cuối tháng 6/1931, Tỉnh ủy tiếp tục được tổ chức lại và cử đồng chí Đặng Văn Quang làm Bí thư Tỉnh ủy.
Từ giữa năm 1930 đến đầu năm 1931, thực dân Pháp tăng cường lực lượng quân sự thực hiện chiến dịch "khủng bố trắng" làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề, nhiều cơ sở đảng bị tan rã. Tại Vĩnh Long, cơ quan Tỉnh ủy bị địch vây rất nhiều lần, các đồng chí lãnh đạo liên tục bị bắt, bị tù, Tỉnh ủy nhiều lần được củng cố. Toàn tỉnh có 20 đảng viên bị giết, 80 đảng viên bị tù đày. Trước sự khủng bố dã man của thực dân Pháp và bọn tay sai, các đảng viên và quần chúng lại thiếu kinh nghiệm đấu tranh nên lực lượng cách mạng bị tổn thất, phong trào cách mạng ở Vĩnh Long tạm thời lắng xuống.
Đầu năm 1935, các đảng viên bị bắt đã tìm cách thoát khỏi nhà tù thực dân trở về địa bàn tỉnh hoạt động gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Thiệt, Trần Thị Minh Nguyệt, Võ Tấn Đức, Lê Văn Khỏe… Năm 1936, đồng chí Tạ Uyên (Châu Xương) vượt ngục từ Côn Đảo trở về, đã tìm cách liên lạc với các tổ chức đảng, khẩn trương kiện toàn Tỉnh ủy Vĩnh Long để lãnh đạo phong trào cách mạng đang có nhiều thời cơ mới do chuyển biến của tình hình thế giới có lợi cho cách mạng trong nước.
Tháng 6/1936, chính phủ của tổ chức cánh tả ở Pháp giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử (còn gọi là Chính phủ Bình dân). Chính phủ Bình dân đã ban hành một số cải cách cho các xứ thuộc địa như ân xá tù chính trị, lập các Ủy ban điều tra thuộc địa và quyết định cử phái bộ của Nghị viện do Thượng nghị sĩ Justin Godart dẫn đầu sang điều tra ở Đông Dương. Lợi dụng tình hình đó, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm tập hợp lực lượng chống nguy cơ phát xít và bọn phản động thuộc địa, tiến hành triệu tập đại biểu ba nước Đông Dương (gọi là Đông Dương đại hội), thảo ra một bản "Dân nguyện" gởi đến Ủy ban điều tra thuộc địa của Chính phủ Bình dân Pháp.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ ủy Nam Kỳ và Liên Tỉnh ủy gồm các đồng chí: Quảng Trọng Hoàng, Phan Văn Bảy, Thanh Long, Vũ Thiện Tấn đã bí mật về Tam Bình, Trà Ôn cùng với đồng chí Tạ Uyên bàn kế hoạch lãnh đạo đấu tranh trong tình hình mới.
Các địa phương tiến hành thành lập "Ủy ban hành động" để tập hợp nguyện vọng của quần chúng và cử đại biểu tham dự Đại hội Đông Dương trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương, Xứ ủy Nam Kỳ, Tỉnh ủy Vĩnh Long chủ trương triệt để lợi dụng các khả năng hợp pháp để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng cách mạng. Ngay trong năm 1936, các Ủy ban hành động đã được thành lập ở Tam Bình, Ngã tư Long Hồ, Trà Ôn, Vũng Liêm… Các Ủy ban tập hợp quần chúng thông qua các hội như Hội Tương tế, Hội Ái hữu, Hội Cờ tướng, Hội Đá banh, Hội Đọc sách, Hội Cắt tóc….
Từ tháng 02/1937 đến tháng 7/1939, tại Vĩnh Long các Ủy ban hành động đã vận động Nhân dân thực hiện nhiều cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp tại nhiều nơi như phong trào đón tiếp Godart (tháng 2 và tháng 3/1937) của nhân dân các xã Trung Thành, Hiếu Thành, Hiếu Phụng,… (Vũng Liêm); cuộc diễn thuyết của đồng chí Thái Văn Sển đưa yêu sách đòi nhà cầm quyền thả tù chính trị, cải cách dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân diễn ra ở Tam Bình nhân ngày Quốc khánh nước Pháp (ngày 14/7/1938). Hàng nghìn quần chúng đấu tranh với bọn thực dân, quan làng đòi dân sinh, dân chủ, đòi chia đất công điền cho dân mướn, ân xá tù chính trị diễn ra ở Trung Ngãi (Vũng Liêm), Tường Lộc, Ba Càng (Tam Bình), Trà Côn (Trà Ôn). Cùng với nông dân, thợ thủ công ở nhiều cơ sở sản xuất cũng đã liên tiếp đấu tranh với chủ lò gạch Cương Ký, Đồng Thanh, Hòa Xương, Hiệp Hưng, Vạn Xương… đòi tăng lương, giảm giờ làm, không được đánh đập, cúp lương, phạt thợ… diễn ra từ tháng 10 đến tháng 11/1938.
Ngày 13/4/1939, hơn 500 nông dân ở quận Vũng Liêm mít tinh tố cáo tội ác của giặc và bọn địa chủ, sau đó kéo đến dinh quận chống cướp đất, đòi giảm thuế, đòi tự do dân chủ. Ngày 14/7/1939, nhân dịp lễ kỉ niệm Quốc khánh nước Pháp, trong tỉnh Vĩnh Long đã đồng loạt nổ ra các cuộc biểu tình đòi ân xá, đòi phòng thủ Đông Dương, không được bắt lính đi nơi khác… như ở La Ghì (Trà Ôn) có gần 1.000 người tham gia, ở Ba Càng (Tam Bình) có 500 người, ở quận Vũng Liêm có trên 1.000 người, quận lỵ Tam Bình có gần 1.500 người tham gia.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tổ chức Đảng Cộng sản, các Ủy ban hành động ở Vĩnh Long đã thành công trong việc hướng dẫn Nhân dân khai thác mọi tình thế để đấu tranh hợp pháp với địch giành thắng lợi. Đồng thời với những thắng lợi trong cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, ý thức chính trị và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng cũng được nâng cao. Thông qua các phong trào đấu tranh của quần chúng, Đảng bộ Vĩnh Long được bổ sung lực lượng và củng cố tổ chức. Sau 1936, tỉnh Vĩnh Long thành lập thêm được nhiều chi bộ, đến năm 1939 hai Đảng bộ quận Tam Bình và quận Vũng Liêm được kiện toàn. Liên lạc giữa Tỉnh ủy Vĩnh Long với Xứ ủy Nam Kỳ và Liên Tỉnh ủy Hậu Giang được thông suốt.
Theo chỉ đạo của Trung ương Đảng, ở Vĩnh Long, Mặt trận Dân chủ được chuyển thành Mặt trận Dân tộc phản đế Đông Dương cuối năm 1939.
3. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng 8 năm 1945 (giai đoạn 1939-1945)
3.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940
3.1.1. Công tác chuẩn bị
Đầu năm 1940, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long triệu tập hội nghị bàn việc chuyển hướng chiến lược và cử đồng chí Trần Văn Bảy (Bảy Xệ) làm Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 7 năm 1940, đồng chí Tạ Uyên thay mặt Xứ ủy Nam Kỳ phổ biến chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa cho toàn Xứ và nhiệm vụ của Tỉnh ủy Vĩnh Long.
Cuối tháng 7/1940, Ban Chấp hành Đảng bộ Vĩnh Long họp tại Cầu Lầu (nay thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long) bàn Dự án khởi nghĩa Nam Kỳ.
Cuộc họp bị lộ, mật thám Pháp vây bắt được các đồng chí Trần Văn Bảy (Bí thư Tỉnh ủy), Lê Quang Phòng (Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Vũng Liêm), Lưu Văn Tài (Tỉnh ủy viên phụ trách Huyện ủy Châu Thành), Quảng Trọng Hoàng (Bí thư Liên Tỉnh ủy Hậu Giang), Mai Văn Tám (Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tam Bình), Thái Nhan (phụ trách Chi bộ Thiềng Đức), Lê Thị Hai (Tỉnh ủy viên Trà Vinh). Địch lấy được một số tài lệu như: Dự án khởi nghĩa Nam Kỳ, sách Chiến thuật du kích, Công tác bí mật và khoảng 100 tờ báo Tiến lên. Địch tiếp tục lùng sục vây ráp nhiều nơi. Công tác chuẩn bị khởi nghĩa tạm thời lắng lại.
Tháng 9/1940, tại quận Vũng Liêm, Tỉnh ủy Vĩnh Long được thành lập lại, đồng chí Thái Văn Đẩu (Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ) được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, đồng chí Ngô Thị Huệ làm Phó Bí thư, hai đồng chí Nguyễn Thị Hồng và Nguyễn Văn Nhứt (Hiếu Tự) làm Tỉnh ủy viên.
Tháng 10/1940, Tỉnh ủy Vĩnh Long họp mở rộng tại Nước Xoáy (Hòa Hiệp, Tam Bình), đã nhận định tình hình ta – địch và thống nhất chủ trương khởi nghĩa. Hội nghị đánh giá tình hình công tác chuẩn bị về cơ sở đảng, các tổ chức quần chúng cách mạng, phong trào luyện tập võ nghệ, chiến thuật du kích.
Hội nghị quyết định thành lập Ban lãnh đạo khởi nghĩa gồm các đồng chí: Thái Văn Đẩu (Bí thư Tỉnh ủy) làm Trưởng Ban, đồng chí Ngô Thị Huệ (Phó Bí thư) trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở tỉnh lỵ và quận Châu Thành, đồng chí Nguyễn Thị Hồng (Tỉnh ủy viên, Bí thư Quận ủy Vũng Liêm) trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Vũng Liêm, đồng chí Nguyễn Văn Nhứt (Tỉnh ủy viên, Bí thư Quận ủy Tam Bình) trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Tam Bình.
Ban Chỉ huy quân sự tỉnh gồm các đồng chí Quảng Trọng Hoàng (Ủy viên Ban Quân sự liên tỉnh) làm Trưởng ban, Nguyễn Hùng Phước và một số đồng chí khác làm ủy viên. Lực lượng khởi nghĩa gồm Chi bộ Công nhân, Chi bộ Nhà tù, quần chúng lao động đã được tập hợp giác ngộ trong các tổ chức Công hội, Ái hữu, Tương tế cùng cơ sở lính làm nội ứng.
Mục tiêu của cuộc khởi nghĩa là đánh chiếm các cơ sở quan trọng của địch, phá khám giải thoát tù chính trị… Ở các quận, đánh chiếm quận lỵ, các đồn bốt, phá đường giao thông ngăn không cho địch ứng cứu tiếp viện.
3.1.2. Diễn biến cuộc khởi nghĩa
- Khởi nghĩa ở quận Tam Bình: Cuộc khởi nghĩa chia 3 mũi:
+ Mũi thứ nhất: có 90 người do đồng chí Nguyễn Văn Nhứt chỉ huy đánh vào dinh quận và trại lính.
+ Mũi thứ hai: có 30 người do đồng chí Đặng Văn Đính đánh chiếm đồn Trà Luộc.
+ Mũi thứ ba: có 30 người do đồng chí Phan Văn Đáng chỉ huy đánh trụ sở làng Mỹ Thạnh Trung, chặn đường tiếp viện từ Vĩnh Long đi Tam Bình.
- Khởi nghĩa ở tỉnh lỵ Vĩnh Long và quận Châu Thành
Kế hoạch khởi nghĩa ở tỉnh lỵ bị lộ, bọn thực dân và tay sai đã đề phòng cẩn mật, ta không hợp đồng khởi nghĩa được, lực lượng khởi nghĩa có 50 người do bà Ngô Thị Huệ chỉ huy chuyển hướng đánh vào quận lỵ Long Hồ, phá cầu Ông Me và cầu Ngã Tư.
- Khởi nghĩa ở quận Vũng Liêm: Cuộc khởi nghĩa chia 3 mũi
+ Mũi thứ nhất: vào lúc 12 giờ đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940, có 80 người do đồng chí Nguyễn Thị Hồng chỉ huy đánh chiếm dinh quận, trại lính, trạm bưu điện.
+ Mũi thứ hai: có 30 người do các đồng chí Nguyễn Văn Nhung (Ba Sa), Phan Ngọc Yến, Trần Văn Viên đánh chiếm đồn Trung Ngãi, phá cầu Giồng Ké, làm chủ tình hình, không cho địch chi viện từ Trà Vinh lên.
+ Mũi thứ ba: có 150 người do 2 đồng chí Hồ Chí Thiện và Phan Văn Hòa chỉ huy có nhiệm vụ đánh chiếm phà Nước Xoáy, đánh chiếm đồn Nước Xoáy ngăn chặn địch chi viện từ Vĩnh Long xuống.
3.1.3. Kết quả của cuộc khởi nghĩa
Lực lượng khởi nghĩa làm chủ quận lỵ Vũng Liêm trong 8 giờ, đánh chiếm được 6 đồn: Trung Ngãi, Ngã tư Nhà Đài, Quới Thiện, Nước Xoáy, Trà Luộc và Cái Ngang, giết chết 1 đồn trưởng Pháp, làm bị thương tên chủ tỉnh Trà Vinh và 1 tên quan hai Pháp, bắt sống hàng chục tù binh, phá 6 cây cầu, đốt phá 3 trụ sở của địch.
Sau khi cuộc khởi nghĩa, địch tổ chức phản công, đàn áp dã man. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tại Vĩnh Long bị địch dìm trong biển máu. Nhiều cơ sở đảng bị phá vỡ, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt, bị tù đày. Tại quận Vũng Liêm có 467 người bị bắt, trong đó có 164 người bị đày ra Côn Đảo. Ở tỉnh lỵ Vĩnh Long có 11 vụ bắt bớ, bắn giết.
Cuộc khởi nghĩa không thành công là do thời cơ chưa chín mùi, kế hoạch khởi nghĩa không đồng loạt và bị lộ, cùng với sự phối hợp và hỗ trợ chưa tốt nên địch tìm mọi cách để đàn áp. Cuộc khởi nghĩa tuy không đạt mục đích đề ra nhưng có ý nghĩa chính trị to lớn, là bước chuẩn bị lực lượng cần thiết, là nguồn cổ vũ cho sức mạnh quật khởi và tinh thần chiến đấu ngoan cường của lực lượng đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng.
3.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
3.2.1. Thời kỳ khôi phục cơ sở đảng, xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng
Cuối năm 1944, các Hội Cứu quốc ở Tam Bình, Vũng Liêm, Trà Ôn được bí mật thành lập, riêng ở Vũng Liêm xuất bản được tờ báo Vũng Liêm mới.
Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, phát xít Đức liên tiếp bị bại trận. Đêm ngày 09 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương.
Tại Vĩnh Long, lính Nhật tiến vào tỉnh lỵ từ lúc 4 giờ sáng ngày 10 tháng 3, quân Pháp không kháng cự. Sau khi lật đổ chính quyền thực dân Pháp, phát xít Nhật giữ nguyên bộ máy hành chính, cử Lương Khắc Nhạc – Quận trưởng Châu Thành làm Tỉnh trưởng, cử Lê Thành Tư là Trưởng ty cảnh sát và Phan Chánh Tâm làm Trưởng ty mật thám.
Khi chiếm được Vĩnh Long, phát xít Nhật ra tay đàn áp, bóc lột Nhân dân. Tình trạng đói nghèo, bệnh tật, không thuốc men, không vải mặc, không dầu đốt đèn… ngày càng trầm trọng. Chúng tăng cường tuyên truyền thuyết Đại Đông Á, thành lập các tổ chức thân Nhật như Thanh niên Nhật – Việt, Phòng vệ Đoàn, Võ sĩ Đoàn…
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, các đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Hữu Thế vượt nhà tù Bà Rá về Vĩnh Long thành lập "Chi bộ đặc biệt", hình thành một trung tâm lãnh đạo mới tại tỉnh lỵ Vĩnh Long.
Tháng 5/1945, Tỉnh ủy lâm thời Vĩnh Long được thành lập tại quận Tam Bình, do đồng chí Huỳnh Hữu Phước làm Bí thư, đồng chí Lưu Văn Tài làm phó Bí thư.
Mùa hè năm 1945, Thanh niên Tiền phong Nam Kỳ được thành lập (gọi là Kỳ bộ Thanh niên Tiền phong, đây là tổ chức thành lập theo chủ trương của Nhật. Lợi dụng chủ trương này ta đưa người thành lập tổ chức để hoạt động công khai) do bác sỹ Phạm Ngọc Thạch làm thủ lĩnh, gồm có kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, luật sư Thái Văn Lung, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, kỹ sư Ngô Tấn Nhơn và Huỳnh Văn Tiểng.
Tháng 6/1945, Chi bộ đặc biệt đã lãnh đạo tổ chức Thanh niên Tiền phong tại Vĩnh Long do bác sỹ Trương Ngọc Quế lãnh đạo. Phong trào Thanh niên Tiền phong phát triển mạnh ở tỉnh lỵ, các huyện Trà Ôn, Vũng Liêm, Tam Bình, Cầu Kè. Đến tháng 8 năm 1945, Thanh niên Tiền phong ở Vĩnh Long có khoảng 70.000 người.
3.2.2. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945
Trưa ngày 24/8/1945, chỉ thị về tổng khởi nghĩa chính thức của Xứ ủy về đến Vĩnh Long, tinh thần chỉ thị đã được truyền đến các địa phương trong tỉnh.
Chiều ngày 24/8/1945, Chi bộ đặc biệt do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt làm Bí thư tổ chức cuộc họp khẩn cấp và đề ra kế hoạch khởi nghĩa tại tỉnh lỵ.
Vào lúc 07 giờ sáng ngày 25/8/1945, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra tại tỉnh lỵ. Hàng nghìn quần chúng và Thanh niên Tiền phong có vũ trang, cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm với khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm", "Việt Minh muôn năm". Đoàn biểu tình dừng lại tại nhà việc Long Châu (trụ sở quận Châu Thành) nghe lời hiệu triệu của Ủy ban khởi nghĩa. Ủy ban khởi nghĩa công bố các chính sách của Mặt trận Việt Minh. Tỉnh trưởng Vĩnh Long là Lương Khắc Nhạc buộc phải đầu hàng vào lúc 10 giờ trưa ngày 25/8/1945.
Tại quận Tam Bình: Ủy ban khởi nghĩa lãnh đạo Thanh niên cứu quốc và hàng nghìn quần chúng bao vây dinh quận. Chính quyền tay sai của Nhật ở quận đầu hàng, bàn giao chính quyền vào lúc 12 giờ trưa ngày 25/8/1945. Sau đó quân khởi nghĩa kéo sang Trà Ôn chi viện cho Nhân dân ở đây giành chính quyền.
Sáng ngày 26/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa ở quận Vũng Liêm lãnh đạo lực lượng quần chúng, thanh niên Cứu quốc buộc chính quyền quận đầu hàng vào chiều cùng ngày.
Ngày 27/8/1945, lực lượng khởi nghĩa ở Chợ Lách, Trà Ôn cũng giành chính quyền. Cùng ngày tên quan tư Nhật ở Vĩnh Long hạ vũ khí giao cho quân khởi nghĩa. Như vậy chính quyền của Nhật ở Vĩnh Long hoàn toàn sụp đổ vào ngày 27/8/1945.
Sáng ngày 28/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa tổ chức cuộc mít tinh lớn tại sân bóng đá Vĩnh Long, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, lập chính quyền mới, chính quyền cách mạng của Nhân dân gồm các ông Nguyễn Văn Phát làm Chủ tịch, bác sỹ Trương Ngọc Quế làm Phó Chủ tịch, ông Phan Văn Sử làm Tổng thư ký.
III. ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM
1. Vĩnh Long xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân
Tháng 9/1945, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy lâm thời Tiền phong (Chi bộ đặc biệt chuyển thành), do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt chỉ huy, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long được thành lập gồm 09 người do ông Nguyễn Văn Phát làm Chủ tịch và bác sĩ Trương Ngọc Quế làm Phó Chủ tịch.
Ngày 06/01/1946, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tiến hành trên cả nước. Kết quả có trên 90% cử tri đi bầu cử và Vĩnh Long có ba đại biểu đắc cử là các đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Phan Văn Sử và Nguyễn Văn Phát.
Những hoạt động đầu tiên của chính quyền cách mạng là tổ chức diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, thực hiện 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh. Thực hiện chính sách ruộng đất, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở lớp bình dân học vụ, được triển khai rộng khắp trên toàn tỉnh. Phong trào mang lại hiệu quả thiết thực nên được Nhân dân đồng tình ủng hộ.
Về mặt quân sự, đơn vị bộ đội đầu tiên của tỉnh được thành lập, biên chế 400 người, hình thành một đại đội, gọi là Cộng hòa Vệ binh. Đoàn Thanh niên Cứu quốc tổ chức những đội cảm tử được trang bị tầm vông, giáo, mác. Tỉnh ủy còn chỉ đạo thành lập công binh xưởng làm súng lửa, mìn…
Mặc dù, chính quyền cách mạng ở tỉnh Vĩnh Long chỉ hoạt động công khai một khoảng thời gian rất ngắn nhưng đã thi hành nhiều chính sách tiến bộ và tổ chức vận động "Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng thau" để tăng nguồn tài chính phục vụ kháng chiến. Vĩnh Long đã quyên góp được một khối lượng vàng khá lớn gửi về Trung ương và tổ chức mua vũ khí ở Thái Lan.
Tháng 10/1945, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Long sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.
2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp (1945-1954)
2.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo nhân dân cùng Nam bộ kháng chiến (tháng 10/1945 đến tháng 12/1946)
Đầu tháng 10/1945, quân Pháp dựa vào quân Anh đánh chiếm Nam Bộ. Ngày 29/10/1945 quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long. Với sự chống trả quyết liệt của quân dân Vĩnh Long đã làm cho quân Pháp gặp rất nhiều khó khăn.
Trong năm 1945 đến đầu năm 1946 ta đã đánh địch trên 30 trận, tiêu diệt trên 100 tên, thu 100 súng các loại. Tuy nhiên lực lượng ta cũng bị thiệt hại, phải rút lui về phía sau.
2.1.1. Tỉnh ủy Vĩnh Long rời địa bàn
Trước tình hình quân Pháp hành quân đánh liên tục vào vùng nông thôn, Tỉnh ủy quyết định phân tán nhằm bảo tồn lực lượng, chỉ để lại một bộ phận bám địa bàn giữ mối liên hệ và cầm chân địch.
Cùng đi với Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến, có lực lượng Cộng hòa Vệ binh do đồng chí Phạm Ngọc Hưng chỉ huy. Các đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Văn Cung xuống Cà Mau, một số đồng chí khác rút sang Chợ Lách.
Trước tình hình đó, phần lớn các đảng viên còn lại, du kích, Thanh niên Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc ở các quận đều phải chuyển hướng hoạt động hoặc tạm lánh nơi khác.
2.1.2. Tỉnh ủy Vĩnh Long trở lại địa bàn
Xác định việc rời khỏi địa bàn là bất lợi cho phong trào kháng chiến ở địa phương, được sự chỉ đạo của Xứ ủy, trực tiếp là đồng chí Phạm Hùng, Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ, Tỉnh ủy Vĩnh Long bàn kế hoạch đưa các đồng chí lãnh đạo trở về tỉnh nhằm trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Đầu tháng 02/1946, Tỉnh ủy Vĩnh Long từ Cà Mau bắt liên lạc với cơ sở cách mạng ở tỉnh đã về đến Mỹ Lộc (Tam Bình). Đến tháng 3/1946, Mặt trận Việt Minh lâm thời tỉnh Vĩnh Long được tái lập do đồng chí Phan Văn Đáng làm Chủ nhiệm, ra nguyệt san Chiến đấu. Các đồng chí ở Chợ Lách, Mỏ Cày đã nhanh chóng trở về địa phương.
Tháng 7/1946, tại rạch Bà Tiềm, ngọn Sa Rài, xã Tường Lộc, quận Tam Bình, Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Vĩnh Long được tái lập. Đồng chí Phan Văn Đáng được cử làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Cung được cử làm Phó Bí thư. Đến tháng 9/1946, tổ chức Đảng từ Tỉnh ủy đến các quận ủy cơ bản được kiện toàn. Quận ủy Tam Bình do đồng chí Nguyễn Ngọc Bích làm Bí thư; Quận ủy Châu Thành do đồng chí Hoàng Nhứt Huy làm Bí thư; Quận ủy Vũng Liêm do đồng chí Lê Thành Công (Tư Dởn) làm Bí thư; Quận ủy Cầu Kè do đồng chí Nguyễn Văn Bôn làm Bí thư; Quận ủy Trà Ôn do đồng chí Nguyễn Ngọc Ánh làm Bí thư.
Cơ sở Đảng ở các ngành nông dân, phụ nữ, mặt trận, quân sự, công an và ở các xã được kiện toàn. Đặc biệt ở các xã đều có Mặt trận Việt Minh, nhiều xã đã xây dựng được lực lượng du kích.
Từ tháng 7 đến tháng 12/1946, Quốc vệ đội, Phân đội 6, Phân đội 11, Phân đội 12 đã tổ chức đánh trên 10 trận lớn nhỏ. Những trận đánh này đã cổ vũ phong trào quần chúng diệt những đồn, tua, gây cho địch nhiều thiệt hại, mở ra một trạng thái chiến trường từ bị động chuyển sang thế chủ động.
2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược (tháng 12/1946 đến tháng 7/1954)
2.2.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, xây dựng vùng độc lập, trường kỳ kháng chiến (1947-1950)
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân đã nhất tề đứng lên kháng chiến.
Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 9, Đảng bộ Vĩnh Long vừa xây dựng vừa đẩy mạnh kháng chiến.
Đầu năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ quyết định chia lại các khu, đổi các quận thành huyện, chỉ đạo củng cố chính quyền nhân dân. Tháng 7/1947, Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính hợp nhất thành Ủy ban kháng chiến hành chính.
Nhìn chung, từ giữa năm 1947, địch đã rút khỏi huyện Tam Bình và Vũng Liêm. Từ năm 1947 đến cuối năm 1949, toàn bộ vùng Cái Ngang, tuyến lộ Trà Ôn đi Cầu Kè, Trà Mẹt, Cầu Vĩ cũng được giải phóng.
Hoạt động quân sự giành nhiều thắng lợi, phong trào diệt ác trừ gian, xây dựng vùng độc lập đạt nhiều thành tích như trận Khoán Tiết ngày 23/02/1947, diệt hàng trăm tên địch của Trung đoàn 111; trận tiến công tổng hành dinh Năm Lửa ở Cái Vồn tháng 3/1947 của Phân đội 12… Tỉnh đã thành lập tỉnh đội dân quân, huyện đội dân quân, xã đội dân quân. Xưởng dân quân tỉnh sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu.Cũng trong thời gian này, Tỉnh ủy được tăng cường thêm các đồng chí: Nguyễn Văn Bôn (Mười Thơ), Lưu Văn Tài, Bùi Huy Sắt. Đồng chí Nguyễn Hữu Thế được cử làm Bí thư Tỉnh ủy thay cho đồng chí Phan Văn Đáng bị bệnh. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh được củng cố và tăng cường, Mặt trận Việt Minh được mở rộng.
Tháng 6/1948, Tỉnh ủy Vĩnh Long họp tại xã Hòa Bình huyện Trà Ôn, bầu đồng chí Đặng Văn Thông làm Bí thư Tỉnh ủy. Hội nghị đã thảo luận và tổ chức thực hiện những chỉ đạo của Xứ ủy, Khu ủy về xây dựng Đảng, lãnh đạo xây dựng hậu phương, xây dựng lực lượng kháng chiến tiến lên.
Quán triệt tinh thần Hội nghị quân sự và Hội nghị cán bộ Đảng toàn xứ Nam Bộ họp tại Đồng Tháp Mười tháng 9/1949, Đảng bộ Vĩnh Long tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm là gấp rút chỉnh đốn lại bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân gồm chủ lực, địa phương quân và dân quân du kích, xây dựng căn cứ hậu phương.
Ở Nam Bộ, tướng Pháp là Đờ Latua tăng cường đàn áp, lừa mị, gây chia rẽ,
mở rộng các đạo quân Cao Đài, Hòa Hảo, phụ quân, thân binh, xây dựng "quân đội quốc gia" giả hiệu. Tổng số quân của Hòa Hảo ở Cái Vồn lên đến 6.000 tên, được Pháp trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại.
Theo kế hoạch mở chiến dịch Cầu Kè, Tỉnh ủy Vĩnh Long chỉ đạo huy động lực lượng ở các huyện Trà Ôn, Tam Bình, Vũng Liêm, Cầu Kè. Chiến dịch Cầu Kè kéo dài 23 ngày, từ ngày 07 đến ngày 30/12/1949. Ta huy động gần 13.000 lượt dân công phục vụ, đã tiêu diệt 17 đồn, bắn chìm 2 tàu, diệt trên 500 tên địch, bắt sống 200 tên, giải phóng cho trên 100.000 dân trong vùng, thực hiện tốt chính sách tù binh, hàng binh đối với 200 lính Âu-Phi.
Có thể nói, thời kỳ 1947-1950 là thời kỳ cuộc chiến đấu của Đảng bộ và quân dân Vĩnh Long phát triển mạnh. Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, Khu ủy, Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Long đã tập trung cao độ sức người, sức của xây dựng vùng độc lập vững mạnh, trở thành một hậu phương có những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội khá ổn định.
Thắng lợi của chiến dịch Cầu Kè đã chứng tỏ thế và lực của ta lớn mạnh trong tương quan lực lượng với quân Pháp.
2.2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Trà lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1951-1954)
Giữa năm 1951, địch lấn chiếm vùng duyên hải, sau đó lấn chiếm các huyện Trà Cú, Cầu Ngang, Châu Thành, Tiểu Cần. Cuối năm 1951, chúng lấn chiếm vùng Trà Ôn, Cầu Kè, Thầy Phó, Cầu Vĩ và tuyến sông Măng Thít - Trà Ôn.
Thực hiện Quyết định số 174/NB51 ngày 17/6/1951 của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Trà, trực thuộc Phân liên khu miền Tây. Đồng chí Phạm Thái Bường, Khu ủy viên được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Trà. Các đồng chí Phan Văn Đáng, Nguyễn Ngọc Thanh làm Phó Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Trí làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh.
- Chống địch càn quét, lấn chiếm, bình định, phối hợp chiến trường chung (1951-1953)
Đầu năm 1952, Tỉnh ủy Vĩnh Trà ra nghị quyết về nhiệm vụ quân sự cho toàn tỉnh, tập trung vào những vấn đề lớn như tích cực phát triển Nhân dân du kích chiến tranh để phá bao vây và bao vây địch; tích cực tiêu diệt nhiều sinh lực địch; tích cực chống các cuộc càn quét của địch; tăng cường công tác địch vận…
Với âm mưu chiếm đóng và tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta, năm 1952, Pháp tập trung lực lượng càn quét Trà Vinh, Vũng Liêm, Tam Bình. Đến cuối năm 1952, phần lớn tỉnh Vĩnh Trà bị địch chiếm đóng, chỉ còn một số vùng nông thôn của huyện Cầu Kè là vùng giải phóng.
Tháng 01/1953, Tỉnh ủy Vĩnh Trà họp Hội nghị mở rộng tại Rừng Lá, Long Vĩnh (giồng Bà Đam), Duyên Hải, có 60 đại biểu các ngành, các huyện tham dự. Hội nghị do đồng chí Phạm Thái Bường, Khu ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Hội nghị đã thông qua nghị quyết và bầu Ban Chấp hành Tỉnh ủy do đồng chí Nguyễn Ngọc Thanh (Mười Thành) làm Bí thư.
Ngoài phần đánh giá tình hình ta - địch, Nghị quyết Tỉnh ủy đề ra 5 nhiệm vụ cơ bản:
Một là, phát triển chiến tranh du kích, nhất là vùng địch hậu, kiện toàn bộ đội địa phương và du kích xã, xây dựng và mở rộng căn cứ du kích địch hậu, chống càn quét; phá bao vây và bao vây địch, đánh tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Hai là, tăng cường hoạt động du kích và công tác tuyên truyền vùng tạm chiếm, phá âm mưu của địch "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt giết người Việt". Củng cố các đoàn thể nòng cốt của Mặt trận, xúc tiến mạnh mẽ địch ngụy vận, chống bắt lính, bắt phu, thực hiện dân vận và tôn giáo vận.
Ba là, tiếp tục tạm cấp ruộng đất và giảm tô, giảm tức cho dân cày. Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, bảo vệ mùa màng. Thống nhất quản lý tài chính và tiến hành thu thuế nông nghiệp.
Bốn là, xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch, thống nhất và liên kết chặt chẽ với nhân dân. Củng cố và phát triển Đảng ở vùng địch tạm chiếm, tăng cường cảnh giác, tích cực phòng gian, bảo mật, bảo vệ Đảng.
Năm là, tuyên truyền giáo huấn, chống chiến tranh tâm lý lừa bịp của bọn thực dân gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo.
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, trong 6 tháng đầu năm 1953, các lực lượng vũ trang đã đánh 207 trận, san bằng một bán cứ điểm, tiêu diệt và làm bị thương 547 tên địch. Ta hy sinh 138 đồng chí, 115 đồng chí bị địch bắt.
- Vĩnh Trà thực hiện nhiệm vụ trung tâm địch ngụy vận (cuối năm 1953 đến tháng 7/1954)
Mặc dù bị căng kéo bởi chiến trường Bắc Bộ, nhưng trong Đông Xuân 1953-1954, trên chiến trường Vĩnh Trà, địch vẫn còn rất mạnh, chúng thực hiện kế hoạch chiếm đóng, những cuộc hành quân lớn vẫn liên tiếp diễn ra.
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Trung ương Cục và Khu ủy, Tỉnh ủy Vĩnh Trà quán triệt và triển khai "thực hiện công tác trung tâm địch ngụy vận", phát động nhân dân du kích chiến tranh trong thời kỳ mới.
Nhằm thực hiện có hiệu quả sự chỉ đạo của Trung ương, chớp thời cơ địch đang thất bại ở chiến trường phía Bắc, ngày 26/10/1953, Tỉnh ủy ra Chỉ thị về việc xúc tiến công tác địch ngụy vận đi đôi với tác chiến quân sự làm suy yếu địch toàn diện, tạo điều kiện và hưởng ứng Chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Nội dung Chỉ thị nhấn mạnh "Vận động chính trị là chính nhưng cũng phải biết kết hợp với quân sự, hướng dẫn ngụy binh làm nội ứng".
Tập trung đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền trong vùng có đạo Hòa Hảo ở Cái Vồn, tranh thủ, tạo thuận lợi, cô lập tay sai, tề điệp, phân hóa hàng ngũ địch, nắm lấy quần chúng.
Tháng 12/1953, ở huyện Duyên Hải, ta tấn công Chi khu Cồn Cù. Tháng 01/1954, ta diệt 4 tháp canh ở Cái Ngang. Tháng 02/1954, bộ đội và nhân dân huyện Duyên Hải đánh chiếm đồn Cồn Lợi, uy hiếp và bức rút 6 tháp canh. Lực lượng ở thị xã Vĩnh Long phối hợp với lực lượng ở Cái Ngang đánh thiệt hại nặng đội commăngđô ở Ngã Tư Long Hồ.
Trong Đông Xuân 1953-1954, quân dân Vĩnh Trà đã đánh 149 trận, loại ra khỏi vòng chiến đấu 3.754 tên địch, trong đó tiêu diệt 330 tên, bị thương 219 tên, bắt hàng 331 tên, rã ngũ 2.874 tên. Ta đã giải phóng 29 xã vùng tạm chiếm, giải phóng hàng chục ngàn dân.
Bám sát sự chỉ đạo của cấp trên, đoàn kết và sáng tạo, tin dân, dựa vào dân là bản chất cách mạng xuyên suốt và cơ bản nhất giúp cho Đảng bộ vượt qua những thời khắc cam go và hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.
3. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)
3.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo Nhân dân đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ (1954-1957)
3.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954), đất nước tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhân dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, văn hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Mỹ không ký vào Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ, tìm mọi cách thay thế thực dân Pháp ở miền Nam Việt Nam. Ngày 07/7/1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn và ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn. Ngày 08/8/1954, Mỹ xâm lược Việt Nam bằng Quyết định NSC 5429/2 và từng bước biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới ở Đông Nam Á.
Tháng 10/1954, Xứ ủy Nam Bộ quyết định chia lại tỉnh Vĩnh Trà thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long là đồng chí Nguyễn Văn Cung. Tỉnh Vĩnh Long bao gồm Vũng Liêm, Tam Bình, Châu Thành và thị xã Vĩnh Long. Các tổ chức Đảng ở cơ sở được củng cố, đảng viên vừa hoạt động bí mật vừa hoạt động hợp pháp. Các tổ chức đoàn, các tổ chức quần chúng được thành lập công khai và hoạt động có hiệu quả. Các chủ trương của Đảng theo hệ thống dây chuyền lan tới quần chúng, từ đó cán bộ, đảng viên bám chắc vào quần chúng, thực hiện phương châm bí mật, dựng căn cứ vững chắc trong nhân dân.
Trong công tác tập hợp lực lượng cách mạng, Đảng bộ Vĩnh Long đã thực hiện tốt chính sách mặt trận, lôi kéo Cao Đài, Hòa Hảo về phía ta chống lại Diệm, do đó các giáo phái liên kết với nhau thành lập "Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia" chống Ngô Đình Diệm. Cùng với lực lượng tại chỗ của ta, các phái đoàn liên minh giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo đã được thành lập. Lực lượng chủ lực và dân quân du kích lớn mạnh, làm chủ một vùng rộng lớn ở Vĩnh Long.
3.1.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ
Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, theo chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã chủ trương "tăng cường đoàn kết, tập hợp tổ chức mọi lực lượng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Giơnevơ để đấu tranh chính trị, đòi dân sinh, dân chủ, đòi Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, bảo vệ quyền lợi của nhân dân đã giành được trong kháng chiến"
Ngày 28/8/1954, nhân dân quận Vũng Liêm có khoảng 4.000 người trương băng, cờ biểu tình thị uy, kéo vào thị trấn đòi địch nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ.
Ngày 25/10/1954, nhân sự kiện lính địch ở Vĩnh Xuân bắn chết anh Lê Văn Bảy (Bảy Bụng), Huyện ủy Trà Ôn phát động phong trào đấu tranh chính trị lớn với khẩu hiệu chống giết người, cướp của, đòi hòa bình độc lập. Đích thân Quận trưởng quận Trà Ôn trực tiếp đưa một đại đội bảo an và lính địa phương đến định đàn áp cuộc biểu tình. Khi đến nơi, thấy phong trào quần chúng dâng cao, Quận trưởng Kiệt cho xe quay về Trà Ôn, nhưng Nhân dân chặn lại, đòi lật xe và buộc hắn phải chấp nhận yêu cầu thả những người bị bắt trước đó.
Mấy ngày sau, địch lại tiếp tục đến bao vây một đám tang. Nhân dân tại đây quyết liệt phản đối, địch đã nã súng bắn chết 18 người, làm bị thương 20 người, đã làm bùng phát cuộc đấu tranh mạnh mẽ có 20.000 Nhân dân tham gia.
Đến ngày 20/7/1956, nhân sự kiện kỷ niệm hai năm ngày ký Hiệp định Giơnevơ, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, trên khắp các vùng nông thôn, thị xã, thị trấn, nhân dân tham gia mít tinh lấy chữ ký đòi lập lại sự thống nhất hai miền, tiến tới tổng tuyển cử… Đặc biệt, ở Vũng Liêm, tham gia phong trào có trên 10.000 người, ở Châu Thành và thị xã có hàng chục ngàn người hưởng ứng.
Cùng thời gian này, để bảo vệ thành quả cách mạng trong thời kỳ kháng chiến, các cấp ủy Đảng đã tổ chức một phong trào đấu tranh của nông dân với nội dung chống Chỉ dụ số 02 và số 07 của Ngô Đình Diệm về việc kê khai ruộng đất, lập khế ước thuê đất địa chủ đối với những ruộng đất đã do chính quyền cách mạng cấp trước đây.
Khi địa chủ dựa vào chính quyền địch ở làng, xã đến đo đất, thu tô đều bị nhân dân đấu tranh quyết liệt. Có nơi, nhân dân võ trang đánh lại, làm cho địa chủ và tay sai phải nhượng bộ và chùn bước.
Qua hai năm chống phá Hiệp định Giơnevơ, địch đã tạo một thế trận mới nhằm thanh toán lực lượng thân Pháp, xây dựng bọn tay sai thân Mỹ, kìm kẹp Nhân dân để hạn chế sự ủng hộ đối với phong trào kháng chiến.
3.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo cuộc đấu tranh chống "tố cộng, diệt cộng" xây dựng lực lượng vũ trang, đánh bại chiến lược "chiến tranh đơn phương" của địch (1957-1960)
3.2.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống "tố cộng, diệt cộng" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Ngày 20/7/1956, Ngô Đình Diệm tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơnevơ và ban hành chính sách "tố cộng, diệt cộng" trên toàn miền Nam.
Trong các nhà tù, trại giam ở Vĩnh Long, số người bị bắt lên đến hàng chục ngàn người. Đảng bộ Trà Ôn liên tiếp có 04 đồng chí bí thư hy sinh. Ở thị xã Vĩnh Long, các cơ sở đảng hầu như bị xóa trắng. Nhiều xã trong tỉnh như Hiếu Phụng, Quới Thiện (Vũng Liêm), không còn chi bộ.
Ở Vĩnh Long, bọn tay sai Mỹ-Diệm đưa các "đoàn công dân vụ" về các xã, ấp, lập "ban tố cộng" ở khắp nơi. Chúng chia dân ra làm 3 loại: loại A gồm cán bộ, đảng viên kháng chiến cũ, loại B là những người, những gia đình có liên quan đến cách mạng, loại C là những người dân thường. Đối với loại A và B chúng bắt chụp ảnh, lập sổ bìa đen để theo dõi, khủng bố.
Thời kỳ này, Mỹ-Diệm tăng cường khủng bố, đàn áp điên cuồng bằng cách tiến hành "cuộc chiến tranh đơn phương" để chống lại nhân dân miền Nam trong tay không có vũ khí, những cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn, dồn dân vào các trại tập trung.
Trước tình hình phức tạp bất lợi cho lực lượng cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Vĩnh Long đấu tranh quyết liệt nhằm phá tan âm mưu chiến lược "chiến tranh đơn phương" của Mỹ-Diệm.
Tại Tam Bình, Vũng Liêm, Chợ Lách, Cái Nhum, quần chúng khắp nơi đều hưởng ứng phong trào "diệt ác, phá kềm", phá rã bộ máy chính quyền địch ở tuyến cơ sở và cấp xã.
Để chống lại sự đàn áp của địch, nhiều đảng viên và quần chúng đòi bạo động vũ trang. Đồng chí Nguyễn Việt Châu đã cùng Tỉnh ủy chủ trương chuyển hình thức đấu tranh từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ. Chính quyết định này của Tỉnh ủy tạo nên một phong trào đấu tranh đa dạng, rộng khắp và có hiệu quả.
Như vậy, từ năm 1957 đến năm 1959, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã có những chủ trương hết sức sáng tạo, linh hoạt nhằm chống trả từng bước, giữ vững phong trào phát triển, tạo khí thế cách mạng trong toàn tỉnh.
3.2.2. Chiến công tiêu diệt Khưu Văn Ba – Tỉnh trưởng Vĩnh Long
Trong giai đoạn 1954 -1960, phong trào cách mạng ở Vĩnh Long cũng như các tỉnh miền Nam lâm vào tình thế hết sức khó khăn. Chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm ngày càng lao sâu vào con đường phát-xít, ráo riết thực hiện tố cộng, diệt cộng, tàn bạo trả thù những người theo kháng chiến cũ. Chúng lập ra cái gọi là "khu trù mật", "khu dinh điền" với ý đồ tách dân ra khỏi lực lượng kháng chiến, hòng tiêu diệt cơ sở cách mạng. Đồng thời, Diệm còn ra đạo luật 10/59, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Chúng lê máy chém đi khắp nơi, thẳng tay chém giết những người yêu nước. Thời kỳ này, cán bộ ta bị tiêu hao liên tục, nhiều cơ sở cách mạng bị tan vỡ, nhiều chi bộ bị mất trắng.
Ở Vĩnh Long, chúng cho thành lập thí điểm 2 khu trù mật (KTM) ở Cái Dầu và Cái Sơn. Khu trù mật Cái Sơn lúc ấy nằm trong địa phận xã Song Phú, huyện Tam Bình, có chiều dài khoảng 2 km, do đốc phủ sứ, tỉnh trưởng Khưu Văn Ba trực tiếp chỉ đạo.
Tháng 8/1957, tiểu đoàn vũ trang, tuyên truyền của tỉnh Vĩnh Long được thành lập, lấy tên là Lý Thường Kiệt, (còn gọi là Tiểu đoàn 857). Đơn vị này có nhiệm vụ vừa hoạt động vũ trang tuyên truyền gây dựng cơ sở, vừa diệt ác ôn hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, phá kềm kẹp, áp bức của địch. Nhiều tên tay sai ác ôn và đơn vị ác ôn có nợ máu với nhân dân đã bị trừng trị, làm cho địch phải hoang mang, lo sợ.
Tháng 6/1960, tiểu đoàn 857 được lệnh về Cái Sơn chuẩn bị chiến đấu và phải diệt cho được tỉnh trưởng ác ôn Khưu Văn Ba, trong số những chiến sỹ ngày ấy có Thiếu tướng Phạm Phi Hùng, nguyên là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Long, ông Nguyễn Văn Thiệt, ông Dương Văn Lòng, ông Nguyễn Văn Đa ….
Đêm 15/6/1960, lực lượng bí mật đưa quân qua đào công sự do địa hình này là đồng trống, rất dễ bị lộ, khó bố trí lực lượng. Khoảng 4 giờ sáng ngày 16/6, các chiến sĩ tham gia trận đánh đã nằm ém quân chờ đợi nổ súng. Trưa ngày 16/6/1960, một trinh sát báo tin Khưu Văn Ba đang trên đường xuống kiểm tra việc xây dựng khu trù mật chuẩn bị đón tổng thống Ngô Đình Diệm xuống khánh thành. Khi xe hắn quay về Vĩnh Long lúc 15 giờ đã lọt vào trận địa phục kích của ta tại Cống Cây Sao nằm trên lộ 16 (nay thuộc địa bàn xã Tân Phú, huyện Tam Bình), cách khu trù mật Cái Sơn khoảng 2 km, các chiến sỹ đại đội 256 bật lên từ các công sự bí mật bất ngờ nổ súng, xe bị lật, Khưu Văn Ba bị thương cố chạy thoát thân, nhưng bị ta bắn chết tại chỗ, bắt sống 3 tên gồm 2 tên trưởng ty và 1 chủ sự hành chính.
Thông tin tỉnh trưởng Khưu Văn Ba bị diệt được truyền đi rất nhanh, bọn địch ở khu trù mật Cái Sơn hốt hoảng bỏ chạy tán loạn, quần chúng nhân dân vui mừng phấn khởi, thừa thắng xông lên phá tan khu trù mật tạo đà cho cuộc nổi dậy trong phong trào đồng khởi 14/9/1960 ở Vĩnh Long, đánh dấu một bước phát triển mới của phong trào cách mạng tỉnh nhà.
Khưu Văn Ba là tỉnh trưởng đầu tiên của ngụy quyền miền Nam bị tiêu diệt nên đã gây tiếng vang rất lớn, làm chấn động cả bộ máy chính quyền ngụy lúc bấy giờ. Việc xây dựng các khu trì mật ở Vĩnh Long bị phá sản hoàn toàn.
3.2.3. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phong trào Đồng Khởi (1960)
Tháng 8/1960, Tỉnh ủy Vĩnh Long nhận được nghị quyết của Khu ủy về chủ trương "đồng khởi". Tỉnh ủy Vĩnh Long họp ở xã Tân Dương (Sa Đéc) do đồng chí Nguyễn Việt Châu, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Hội nghị thống nhất từ ngày 14/9/1960 sẽ tiến hành đồng khởi trong toàn tỉnh. Chủ trương "đồng khởi" nhanh chóng phổ biến đến từng cơ sở nhân dân và lực lượng cách mạng đang chuẩn bị đầy đủ để tiến hành khởi nghĩa trong toàn miền Nam theo đúng như kế hoạch đã định.
Sau ngày 14/9/1960, Vĩnh Long đã nổi dậy đồng khởi diệt ác, phá kềm, xây dựng và củng cố xã, ấp chiến đấu. Đến cuối năm 1960, toàn tỉnh Vĩnh Long đã phá rã 2/3 bộ máy kềm kẹp của địch ở nông thôn, giải phóng 30 xã trong tổng số 73 xã của tỉnh.
Đồng khởi ở tỉnh Vĩnh Long là một mốc son trong lịch sử của tỉnh. Đó là đỉnh cao của phong trào đấu tranh giữa lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang, là sự quyết đoán và sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Long. Thắng lợi của phong trào Đồng Khởi đã làm thất bại chiến lược "Chiến tranh đơn phương" của Mỹ-Diệm, đưa cách mạng miền Nam lên một cao trào mới.
Cuối tháng 4/1961, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Vĩnh Long được thành lập.
3.3. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo Nhân dân góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1961 - 1975)
3.3.1. Trong chiến lược Chiến tranh đặc biệt (1961-1965)
Đế quốc Mỹ tiến hành "chiến tranh đặc biệt", sử dụng chính quyền và quân đội Sài Gòn tiến hành đánh phá phong trào cách mạng bằng vũ khí, tiền của và sự chỉ huy của cố vấn Mỹ; đẩy mạnh "quốc sách ấp chiến lược". Đến cuối năm 1962, toàn tỉnh Vĩnh Long đã có 344 ấp chiến lược được xây dựng.
Đảng chủ trương chuyển từ khởi nghĩa sang chiến tranh cách mạng, từng bước đưa đấu tranh vũ trang lên cùng với đấu tranh chính trị. Thực hiện phương châm "hai chân, ba mũi, ba vùng" với nguyên tắc: "Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch".
Thực hiện chỉ thị của Đảng, căn cứ vào tình hình thực tế của chiến trường Vĩnh Long, Tỉnh ủy Vĩnh Long vạch ra hai nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ này là:
Phát huy sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công, đánh rã bộ máy tề ngụy, lực lượng ngụy quân, phá ấp chiến lược.
Ra sức xây dựng chính quyền và các đoàn thể cách mạng, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế ở vùng nông thôn giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang xã, ấp chiến đấu, dồn sức đánh bại "quốc sách ấp chiến lược" của địch.
Đến năm 1964, các ấp chiến lược liên tục bị phá vỡ, quân dân ta đã làm chủ một vùng giải phóng rộng lớn. Ở Tam Bình ta giải phóng được 7 xã; Châu Thành giải phóng 5 xã; ở Vũng Liêm giải phóng 4 xã; ở Bình Minh, Trà Ôn, Cái Nhum các ấp chiến lược cùng đồn bót bị phá tan hoang.
Ta đã giành thắng lợi toàn diện, phá vỡ ách kiềm kẹp của địch, giải phóng một vùng nông thôn rộng lớn, góp phần phá tan chiến lược "chiến tranh đặc biệt của Mỹ".
3.3.2. Trong chiến lược Chiến tranh cục bộ (1965-1968)
Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của địch hoàn toàn bị phá sản. Chính quyền Sài Gòn có nguy cơ bị sụp đổ. Trước tình hình đó, Tổng thống Mỹ Giônxơn đã ồ ạt đưa quân vào miền Nam với quy mô ngày càng lớn để tiến hành "Chiến tranh cục bộ". Biện pháp chủ yếu là tìm và diệt, sau đó là tìm diệt và bình định ở miền Nam.
Trước tình hình mới, thực hiện nghị quyết và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Vĩnh Long chỉ đạo cụ thể là xây dựng xã, ấp chiến đấu, du kích phối hợp với địa phương quân đẩy mạnh chống sự càn quét của địch, phát động Nhân dân bám ruộng vườn, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, phá "ấp đời mới, ấp tân sinh", tiêu diệt địch ở vùng kìm, tăng cường biệt động thành trong nội ô thị xã, tấn công vào sào huyệt của địch, kết hợp 3 mũi giáp công, giành thế chủ động trên chiến trường, bẻ gãy chiến thuật hai gọng kìm của địch.
Đảng bộ Vĩnh Long hạ quyết tâm và chỉ đạo đánh thắng quân Mỹ ngay từ trận đầu. Tháng 7/1965, ta tập kích vào sân bay Vĩnh Long; ngày 10/10/1965, ta mở rộng vùng giải phóng ở Cái Nhum; tháng 3/1967, ta đẩy lùi 6 đợt tiến công của địch tại xã Hòa Bình; tháng 7/1967, ta đánh bại cuộc hành quân của ngụy đánh vào Phú Quới; tháng 11/1967, ta đánh bại cuộc hành quân của địch vào căn cứ Tỉnh ủy ở Bình Ninh, Ngãi Tứ (Tam Bình)… Chủ trương "cứ đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ" đã trở thành hiện thực.
Chỉ đạo đánh thắng 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, khiến quân Mỹ từ chủ định tìm và diệt, phải chuyển về quét và giữ. Ta vẫn giữ được thế chủ động chiến trường, tạo ra thời cơ mới vào cuối năm 1967, đầu năm 1968 để chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
3.3.3. Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Vĩnh Long
Theo sự chỉ đạo của Trung ương, đúng 02 giờ 30 phút đêm 30/01/1968 (tức rạng sáng mùng 1 tết), súng lệnh nổ phát ra từ sân bay, các mũi tiến công của ta đồng loạt tấn công vào các mục tiêu đã định, giữ vững trận địa kéo dài đến mùng 6 tết. Địch ra sức phản công và chúng đã chiếm lại các vị trí đã mất. Quân ta rút về vùng ven để củng cố lực lượng tiếp tục tiến công.
Ở các huyện trong tỉnh cũng đồng loạt nổi dậy tiến công nhưng do lực lượng mỏng, không chiếm được thị trấn, nên ta phải rút ra bao vây các đồn bót địch, kiềm chân chúng tại chỗ để chi viện cho tỉnh.
Ngày 20/5/1968, Bộ Tư lệnh Quân khu miền Tây ra lệnh tấn công thị xã đợt II. Tại Vĩnh Long, lực lượng vũ trang tỉnh được sự chi viện của Quân khu, tiến công vào căn cứ, kho tàng của địch trong thị xã Vĩnh Long, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.
Mặc dù cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968 chưa đạt kết quả như chủ trương đề ra nhưng Đảng bộ, quân và dân tỉnh Vĩnh Long đã giành được thắng lợi to lớn và toàn diện. Lần đầu tiên, quân và dân tỉnh Vĩnh Long thực hiện cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa vào trung tâm đầu não của địch và làm chủ thị xã Vĩnh Long trong 6 ngày đêm.
Sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy ở toàn miền Nam, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ cơ bản bị thất bại, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.
3.3.4. Trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", giai đoạn từ tháng 01/1969 đến 01/1973
R.Nixon lên làm tổng thống, đề ra chủ trương chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, quyết định rút dần quân Mỹ về nước, chuyển giao vai trò chủ yếu trên chiến trường cho quân đội Sài Gòn, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào.
Đảng nhận định chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ra đời trong thế thua, thế bị động. Việc Mỹ rút quân mở ra cơ hội lớn cho cuộc kháng chiến "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Chủ trương kết hợp ba đòn tiến công chiến lược: đòn tiêu diệt của chủ lực; đòn tiến công và nổi dậy ở nông thôn; đòn đấu tranh chính trị ở thành thị để xoay chuyển tình thế do bị tổn thất nặng trong tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968.
Tháng 3/1972, cùng với chiến trường chung của cả nước, quân và dân tỉnh Vĩnh Long đã mở chiến dịch Xuân Hè. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, bức rút đồn bót, mở rộng vùng giải phóng để góp phần làm hậu thuẫn cho Hội nghị Paris. Mở màn chiến dịch, ta tiêu diệt chi khu Cái Vồn, sau đó mở tuyến Bình Minh, Lấp Vò, Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm, Trà Ôn, Cái Nhum.
Qua đợt tấn công nổi dậy mùa hè năm 1972, quân và dân Vĩnh Long đã tạo được sự chuyển biến lớn có lợi cho ta. Ta đã tiêu diệt 7.202 tên địch, búc rút 87 đồn, giải phóng hàng nghìn dân, căn cứ được mở rộng liên hoàn.
Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Hè 1972 của quân và dân Vĩnh Long đã góp phần cùng quân dân cả nước buộc Mỹ phải đi đến ký kết Hiệp định Paris (01/1973).
3.3.5. Giai đoạn từ tháng 01/1973 đến tháng 4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam
Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Tỉnh ủy Vĩnh Long đề ra chủ trương vừa phản công vừa tấn công nhằm đánh bại chương trình bình định đặc biệt của địch, mở rộng vùng giải phóng liên hoàn ở nông thôn. Tỉnh ủy xác định vùng giải phóng vừa là hậu phương vừa là tiền phương, địch đến là đánh, địch đi là tăng gia sản xuất. Tăng cường xây dựng vùng nông thôn, giải phóng về mọi mặt nhằm động viên cao nhất tiềm lực của vùng.
Thực hiện chủ trương vừa phản công, vừa tiến công, ta đã tổ chức nhiều trận đánh. Chỉ trong năm 1974, ta đã tiêu diệt 10 đồn bót của địch, giải phóng và làm chủ nhiều vùng nông thôn ở Vũng Liêm, Tam Bình, Trà Ôn, Châu Thành…
Trong 3 năm 1972-1974, ta đã vận động làm rã ngũ và binh biến, đưa 4.293 binh sĩ ngụy trở về với nhân dân.
Đặc biệt, ngày 08/01/1975, Trung đoàn 3 phối hợp với lực lượng địa phương và du kích tiến công tiêu diệt hoàn toàn Yếu khu Thầy Phó (Hựu Thành, Trà Ôn), ta thu 2 khẩu pháo 105 ly, tiêu diệt 100 tên địch, bắt sống gần 150 tên.
Theo sự chỉ đạo của Trung ương, giữa tháng 4/1975, Tỉnh ủy Vĩnh Long chỉ thị cho toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh gấp rút chuẩn bị cho trận cuối cùng. Mỗi địa phương đều có kế hoạch chuẩn bị cho mình theo phương hướng xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.
Ở Vĩnh Long, chiều ngày 29/4/1975, các hướng đã tập kết quân về địa điểm đã định. Ban chỉ huy tiền phương chuyển về tập kết ở Giáp Nước (xã An Đức, nay là xã Phú Đức). Sáng ngày 30/4/1975, ta kiểm tra công tác chuẩn bị cuối cùng của các hướng, rà soát lại lần cuối phương án tác chiến.
Lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng cách mạng.
Ban chỉ huy tiền phương lập tức thông báo cho các đơn vị và các huyện, đồng thời chỉ thị cho các đơn vị và các huyện lên máy bộ đàm kêu gọi đối phương đầu hàng nhưng phải sẵn sàng thực hiện phương án đã định nếu đối phương không buông súng. Đồng chí Nguyễn Đệ (Ba Trung) lên máy bộ đàm kêu gọi Đại tá Lê Trung Thành, Tỉnh trưởng Vĩnh Long đầu hàng Quân giải phóng. Tuy nhiên, Đại tá Thành vẫn chần chừ đợi lệnh từ Vùng 4 chiến thuật.
Lúc 15 giờ, ngày 30/4/1975, Trung đoàn 16 và chi đoàn thiết giáp của địch đang càn quét, cắm quân chà sát ở Mỹ Lộc tháo chạy, kéo về thị xã Vĩnh Long lên lộ 4 chúng bỏ xe, pháo, súng đạn ngổn ngang, trở về với gia đình.
Lúc 20 giờ, ngày 30/4/1975, Đại tá Tỉnh trưởng Vĩnh Long Lê Trung Thành chủ động lên máy bộ đàm liên lạc với ta xin đầu hàng và sẽ cử sĩ quan liên lạc đến nhận lệnh và đón Quân giải phóng vào thị xã Vĩnh Long. Tỉnh trưởng Vĩnh Long đề nghị đón Quân giải phóng tại Cầu Vòng. Đúng hẹn, đồng chí Nguyễn Văn Bá (Sáu Bá), Trung đoàn phó Trung đoàn 3, thay mặt Quân giải phóng cùng với các đồng chí trong đoàn đến gặp viên sĩ quan liên lạc và được xe đưa vào dinh Tỉnh trưởng gặp Đại tá Thành để thỏa thuận thời gian, địa điểm tiếp nhận đầu hàng. Để thuận tiện cho việc tiếp quản thị xã, ta yêu cầu Đại tá Lê Trung Thành tiến hành bàn giao chính quyền vào sáng ngày 01/5, đồng thời để hạn chế thương vong cho hai bên, đồng chí Nguyễn Văn Bá yêu cầu đối phương phải treo cờ trắng tại tất cả hậu cứ ngay trong đêm 30/4, binh lính phải rời khỏi hậu cứ nhưng không được mang theo vũ khí.
Đúng 6 giờ sáng, ngày 01/5/1975, ta vào tiếp quản thị xã Vĩnh Long. Tại các chi khu, Ban chỉ huy chiến dịch các huyện cũng tiến vào tiếp quản chính quyền. Tỉnh Vĩnh Long được giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta đã kết thúc với thắng lợi hoàn toàn. Trên các nẻo đường nội ô thị xã Vĩnh Long, Nhân dân từ khắp nơi kéo về cùng Nhân dân thị xã xuống đường mừng chiến thắng.
Như vậy, trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, quân và dân Vĩnh Long đã vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ với những mất mát, hy sinh vô cùng to lớn để cùng với quân và dân cả nước hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
4. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo Nhân dân góp phần đánh thắng chiến tranh biên giới Tây Nam, làm trò nghĩa vụ quốc tế (1979 – 1989)
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, do sự xúi giục của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam, Pônpốt-Iêngsari đã dùng quân đội tiến hành cuộc xâm lấn biên giới Tây Nam, tạo chiến tranh giữa hai nước Việt Nam và Campuchia. Trong cuộc chiến tranh này, Nhân dân Vĩnh Long đã đóng góp to lớn về người và của để phục vụ quân tình nguyện của Việt Nam và hỗ trợ về nhân lực, tài lực, giúp tỉnh Kompongspư - là tỉnh kết nghĩa với Cửu Long, khôi phục và xây dựng lại quê hương sau nạn diệt chủng Pônpốt.
Đóng góp vào thắng lợi đó, Đảng bộ, lực lượng vũ trang và Nhân dân tỉnh Cửu Long đã chi viện 3 tiểu đoàn và đến năm 1985 đã phát triển lên 8 tiểu đoàn, với hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, chuyên gia.
Trong 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế tại tỉnh Kompongspư, các đơn vị vũ trang tỉnh Cửu Long và bạn đã phá bỏ 100 căn cứ, loại khỏi vòng chiến đấu 2.300 tên địch, thu 1.200 súng các loại và nhiều trang thiết bị khác.
Trong suốt chặng đường đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống kẻ thù xâm lược, đặc biệt là trong cuộc chiến gần 100 năm chống lại sự đô hộ và cai trị của thực dân Pháp (1858 - 1954), 21 năm kháng chiến ác liệt chống đế quốc Mỹ (1954 - 1975), 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia (1979 – 1989), quân và dân Vĩnh Long đã cùng nhau đoàn kết một lòng, không ngại khó, ngại khổ, hy sinh, mất mát để giữ gìn và xây dựng nên vùng đất Vĩnh Long anh hùng như ngày hôm nay. Với những hy sinh và đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh, giải phóng tỉnh nhà nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân dân Vĩnh Long đã vinh dự được tặng thưởng 01 Huân chương Sao vàng và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Vĩnh Long có trên 60.000 người có công được ghi nhận, tôn vinh, trong đó có trên 16.228 liệt sĩ, trên 5.948 thương binh, có 49 tập thể và 47 cá nhân được truy tặng, công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 2.880 bà mẹ được phong tặng - truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; gần 35.800 người có công được tặng thưởng Huân chương, Huy chương Kháng chiến; gần 190 tập thể, 760 cá nhân được tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động các hạng.
Lịch sử khai phá vùng đất Vĩnh Long chỉ khoảng 300 năm (tính từ năm 1732), nhưng Nhân dân Vĩnh Long đã cùng Nhân dân cả nước phải tiến hành 7 cuộc chiến tranh vệ quốc. Là tỉnh tiêu diệt được 02 tên tỉnh trưởng trong 02 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là tỉnh mà quân và dân đã làm chủ được cả một quận lỵ trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, với những thành tích và truyền thống vẻ vang, hào hùng, oanh liệt như vậy, Vĩnh Long xứng đáng là vùng đất anh hùng, vùng đất giàu truyền thống cách mạng.
IV. ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ (1975 – 2015)
1. Thời kỳ 10 năm đầu sau giải phóng (1975 – 1985)
1.1. Chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế
Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ tĩnh Vĩnh Long xác định nhiệm vụ giai đoạn 1976 – 1980 là: "...Ra sức khôi phục và phát triển sản xuất, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp (...). Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đẩy mạnh phong trào làm ăn tập thể (...). Tổ chức thí điểm hợp tác xã nông nghiệp, tổ chức nông trường quốc doanh, tạo điều kiện đi nhanh lên hợp tác hóa nông nghiệp...". Đến giai đoạn 1981-1985, quán triệt Chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, tỉnh tập trung xây dựng các tập đoàn sản xuất mới gắn liền với thực hiện cơ chế khoán sản phẩm; đồng thời thực hiện chủ trương, chính sách về công tác điều chỉnh ruộng đất theo phương châm "nhường cơm xẻ áo"; thực hiện tốt việc giao nộp sản phẩm và chế độ lương khoán, khoán sản phẩm, tạo điều kiện cho sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển.
1.2. Thành tựu chung
Kinh tế Vĩnh Long trong giai đoạn 1976-1980 đã đạt mức tăng trưởng bình quân 2,97%/năm, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 1,63%/năm và giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 14,12%/năm. Giai đoạn 1981-1985, đạt mức tăng trưởng bình quân 14,35% năm, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 14,35%/năm và giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 25,33%/năm. Như vậy, sau 10 năm khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kinh tế Vĩnh Long đã đạt được một số thành tựu cơ bản, phát triển tương đối đồng đều trên các lĩnh vực và có ý nghĩa quan trọng cho quá trình phát triển ở các giai đoạn tiếp theo.
2. Thời kỳ đổi mới (1986-2010)
2.1. Chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đề ra nhiệm vụ: "Nắm vững phương hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phấn đấu thực hiện cho kỳ được ba mục tiêu kinh tế then chốt, tạo sự chuyển biến rõ rệt bộ mặt kinh tế - xã hội, nhằm ổn định và nâng cao một bước đời sống của nhân dân, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa...". Thực hiện chủ trương trên, tỉnh đã tập trung nguồn lực để thực hiện ba chương trình kinh tế trọng tâm, đó là: Chương trình sản xuất lương thực – thực phẩm; Chương trình sản xuất hàng tiêu dùng và Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu.
Giai đoạn 1991 – 1995, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V đã xác định nhiệm vụ chủ yếu: "Xây dựng cơ cấu kinh tế mới cho tỉnh theo hướng không ngừng tăng giá trị tuyệt đối sản phẩm nông nghiệp toàn diện, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ, tăng dần tỷ trọng giá trị hoạt động dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp và thương mại, dịch vụ". Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Vĩnh Long đã vận dụng các chủ trương, chính sách một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của địa phương. Cơ chế quản lý mới được xác lập, hàng hóa, vật tư lưu thông theo quy luật giá trị và quy luật cung cầu của thị trường. Sức sản xuất mới trong xã hội và động lực phát triển mới do cơ chế mới bắt đầu phát huy tác dụng.
Giai đoạn 1996 – 2000, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI đã đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2010: "Từ nay đến năm 2010, Vĩnh Long ra sức đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước nhất là công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, biến Vĩnh Long thành một tỉnh có nền nông nghiệp phát triển toàn diện và tương đối hiện đại, có công nghiệp và dịch vụ phát triển vững chắc...". Cơ chế chính sách và vốn đầu tư được xem là hai yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng. Tác động của chuyển đổi cơ chế, chính sách không còn mạnh mẽ như những năm đầu đổi mới. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế của cả nước và của tỉnh cũng chịu sự tác động, ảnh hưởng nhất định từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ của khu vực và thế giới (năm 1997 -1998).
Giai đoạn 2001 – 2005, bước vào thế kỷ XXI, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII đã đề ra mục tiêu tổng quát cho giai đoạn này là: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, đồng thời đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đầu tư theo hướng phát triển công nghiệp và thương mại – dịch vụ. Khắc phục những tồn tại, yếu kém trong nền kinh tế, nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn nhiệm kỳ qua. Tranh thủ thời cơ, khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và lợi thế so sánh, phát huy tối đa các nguồn lực trong và ngoài tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội, tạo bước chuyển biến mới về xã hội, chuẩn bị tốt các điều kiện theo lộ trình hội nhập của cả nước…" Bên cạnh việc tiếp tục huy động nguồn lực cho phát triển với tốc độ cao, yếu tố về hiệu quả của sự phát triển cũng bắt đầu được chú ý. Đại hội cũng đề ra năm chương trình mục tiêu, đó là: Chương trình đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm cho người lao động; Chương trình nhà ở và phát triển mạng lưới đô thị; Chương trình giống; Chương trình thu hút đầu tư và Chương trình phát triển công nghệ thông tin.
Giai đoạn 2006 – 2010, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung cho giai đoạn này: "Huy động mọi nguồn lực, tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế để có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, chất lượng, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, (…) nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh hàng hóa, sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Lấp đầy các doanh nghiệp trong các khu, tuyến công nghiệp, (…) tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng nhanh giá trị và hiệu quả trên một đơn vị diện tích sản xuất. Phát triển ngành nghề nông thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động". Đại hội cũng đã đề ra năm chương trình mục tiêu, đó là: Chương trình đào tạo nguồn nhân lực và giải quyết việc làm; Chương trình phát triển đô thị - nhà ở; Chương trình giống; Chương trình thu hút đầu tư và Chương trình phát triển các khu, cụm, tuyến công nghiệp. Đồng thời, trong giai đoạn này cũng đã ban hành đề án về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tiếp tục phát huy thành quả của 20 năm đổi mới, với sự ổn định chính trị cùng với việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn này những ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (bắt đầu từ năm 2008), cùng với lạm phát tăng cao, hạn chế của mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng (dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên), dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên cây trồng, vật nuôi và trên cả người, giá cả nông sản biến động theo hướng bất lợi cho người sản xuất, sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,… đã tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là phát triển kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, đời sống của nhân dân.
2.2. Thành tựu chung
Kinh tế Vĩnh Long trong từng giai đoạn như sau: giai đoạn 1986 – 1990 mức tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân trong 5 năm đạt 5,77%; giai đoạn 1991 – 1995 mức tăng bình quân trong 5 năm là 8,12%/năm với tỷ trọng nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ năm 1995 là 65,12 – 10,15 – 24,72(%); giai đoạn 1996 – 2000 mức tăng bình quân trong 5 năm là 6,64%/năm với tỷ trọng nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ năm 2000 là 61,32 – 11,17 – 27,51(%); giai đoạn 2001 – 2005 mức tăng bình quân trong 5 năm là 8,06%/năm với tỷ trọng nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ năm 2005 là 53,38 – 15,49 – 31,13(%); giai đoạn 2006 – 2010 mức tăng bình quân trong 5 năm là 11,3%/năm với tỷ trọng nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ năm 2010 là 49,5 – 16,6 – 33,9(%). Như vậy, sau gần 25 năm đổi mới, kinh tế Vĩnh Long đã có nhiều thành tựu quan trọng. Việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế đã góp phần đem lại tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn đạt mức khá, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, tạo điều kiện phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Đồng thời, đây cũng là tiền đề quan trọng để Vĩnh Long hướng đến mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững, quyết tâm xây dựng Vĩnh Long thành tỉnh trung bình khá trong khu vực ở những giai đoạn sau.
3. Tiếp tục thời kỳ đổi mới (2011-2015)
3.1. Chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung cho giai đoạn này là: "…Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững, quyết tâm xây dựng Vĩnh Long thành tỉnh trung bình khá trong khu vực. Đạt được mục tiêu trên phải tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt đời sống người nông dân và xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở đó phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả…"; "tập trung huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh nền kinh tế; bảo đảm tăng trưởng hợp lý và bền vững; tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, hiện đại. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp, khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của tỉnh và đóng vai trò động lực cho phát triển kinh tế - xã hội…". Đại hội cũng đã đề ra hai đột phá về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và bốn chương trình mục tiêu gồm: Chương trình thu hút đầu tư; Chương trình đào tạo nhân lực, chuẩn hóa cán bộ, công chức; Chương trình phát triển đô thị và nhà ở; Chương trình xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở đó, khi tổ chức triển khai thực hiện, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã cụ thể hóa thành sáu chương trình hành động chuyên đề và một số chương trình, đề án quan trọng khác trên lĩnh vực kinh tế như: xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tổ chức lại ngành sản xuất gạch - gốm, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, v.v…
3.2. Thành tựu chung
Thực hiện chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế, giai đoạn 2011 - 2015 đã đạt mức tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 6,95%/năm. Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần khu vực nông nghiệp và tăng dần khu vực công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; tỷ trọng các khu vực tương ứng năm 2015 là 33,34 - 22,22 - 44,44(%). Mặc dù vậy, kinh tế Vĩnh Long vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, quy mô kinh tế tiếp tục được mở rộng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ bản đúng hướng. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội thường xuyên được quan tâm và đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Bên cạnh đó, với những định hướng quan trọng của Trung ương về tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, đồng thời với quyết tâm thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nhanh nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ sẽ tạo ra những động lực mới để phát triển, cũng như sẽ tạo ra những chuyển biến mới đối với sự phát triển của cả nước nói chung và của Vĩnh Long nói riêng trong thời gian tới. Đây là điều kiện thuận lợi để Vĩnh Long khắc phục những hạn chế trong nội tại nền kinh tế của mình nhằm duy trì và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bảo đảm nền kinh tế phát triển bền vững, góp phần cùng cả nước phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
4. Tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 6 năm 2019
4.1. Kết quả đạt được
Mặc dù vẫn còn không ít khó khăn, thách thức nhưng đến cuối năm 2018, tỉnh đã có 7/25 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đạt và vượt so với Nghị quyết. Đến năm 2020, toàn Đảng bộ sẽ quyết tâm, nỗ lực phấn đấu với tinh thần trách nhiệm cao nhất nhằm thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra.
4.1.1. Về kinh tế
Tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm (2016-2018) đạt 6,3%/năm; GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 44,8 triệu đồng (khoảng 1.947 USD), tăng 1,3 lần so năm 2015.
Tổng vốn huy động đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đạt 36.942 tỷ đồng, tăng bình quân 6,18%/năm, đạt 56,6% so nghị quyết. Thu, chi ngân sách nhà nước hàng năm đều đạt, vượt so kế hoạch. Nợ xấu tín dụng ngân hàng được xử lý khá tốt, từng bước giảm mạnh qua các năm, đến cuối năm 2018 tỷ lệ nợ xấu còn 2,95%/tổng dư nợ.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) duy trì nằm trong nhóm đầu của cả nước (thứ hạng 3 năm 2016, 2017, 2018 lần lượt là 6, 6 và 8). Hoạt động xúc tiến đầu tư, khuyến khích khởi nghiệp được đổi mới, chủ động hơn đã góp phần phát triển trên 300 doanh nghiệp mỗi năm, riêng năm 2018 đạt 352 doanh nghiệp. Tiếp xúc và làm việc với 142 nhà đầu tư đến tìm hiểu môi trường đầu tư, trong đó có 71 nhà đầu tư nước ngoài; cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và chủ trương đầu tư cho 49 dự án với tổng số vốn đăng ký trên 9.967 tỷ đồng..
Kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội như giao thông, điện, thủy lợi, nước sạch... được đầu tư ngày càng đồng bộ từ thành thị đến nông thôn và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) tăng 5,79% (chỉ tiêu Nghị quyết tăng 6,2%). Trong đó, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,96%; Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,74%; Dịch vụ tăng 6,45%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 122,46 triệu USD, tăng 41,02% so cùng kỳ và dự báo vượt kế hoạch năm. Tỷ lệ nợ xấu tín dụng ngân hàng tiếp tục giảm, còn gần 2% trên tổng dư nợ cho vay.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước thực hiện 6.602 tỷ đồng, đạt 47,84% chỉ tiêu Nghị quyết, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản chuyển biến khởi sắc hơn nhờ sự chỉ đạo quyết liệt từ đầu năm, kết quả thực hiện được 1.046,7 tỷ đồng, đạt 37,81%, tăng 13,62% so cùng kỳ. Công tác xúc tiến đầu tư, phát triển doanh nghiệp được đổi mới, chủ động hơn; cấp mới Giấy chứng nhận cho 164 doanh nghiệp (trong đó có 6 dự án FDI) với tổng số vốn đăng ký 1.354 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm 2018, tăng 9,33% về số doanh nghiệp và tăng 76,76% về số vốn đăng ký.
Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 3.492 tỷ đồng, đạt 56,59% chỉ tiêu Nghị quyết và tăng 15,38% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách ước thực hiện 3.922 tỷ đồng, đạt 46,42% chỉ tiêu Nghị quyết, tăng 12,1% so cùng kỳ. Ước đến cuối tháng 6/2019, số dư nguồn vốn huy động đạt 36.300 tỷ đồng, tăng 7,22% so với đầu năm; tổng dư nợ cho vay đạt 26.000 tỷ đồng, tăng 4,66% so với đầu năm.
Về xây dựng nông thôn mới, hiện toàn tỉnh có 45/89 xã đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 50,56%, trong năm 2019 phấn đấu đạt thêm 6 xã; hiện nay, tổng số tiêu chí đạt được của 89 xã là 1.338 tiêu chí, bình quân toàn tỉnh đạt 15 tiêu chí/xã, tăng 1,9 tiêu chí/xã so với cùng kỳ[1]. Công tác chỉ đạo củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình kinh tế tập thể được quan tâm. Thành lập mới 10 hợp tác xã, nâng tổng số đến nay có 161 hợp tác xã và 01 liên hiệp hợp tác xã với 8.061 thành viên, 7.789 lao động, tổng vốn điều lệ 143,10 tỷ đồng. Các hợp tác xã nỗ lực ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng hoạt động, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế, đảm bảo tiêu chí 13 trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
4.1.2. Văn hóa - xã hội
Thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với gia đình chính sách, người có công với cách mạng. Toàn tỉnh có 2.880 Mẹ Việt Nam anh hùng. Cơ bản giải quyết xong hồ sơ liệt sĩ tồn đọng.
Các chính sách bảo trợ xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đạt nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật là, đã hỗ trợ xây dựng 6.272 căn nhà cho hộ nghèo có khó khăn về nhà ở (trong đó có 1.676 căn nhà cho hộ Khmer nghèo có khó khăn về nhà ở), tổng kinh phí trên 227 tỷ đồng.
Giải quyết việc làm cho 79.068 lao động, đạt 83,23% chỉ tiêu nghị quyết, trong đó đưa 3.222 người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, đạt 80,55% kế hoạch. Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm cao hơn nghị quyết đề ra, bình quân mỗi năm giảm 1,18% (nghị quyết giảm 1%/năm); cuối năm 20018, tỉnh còn 7.530 hộ nghèo, tỷ lệ 2,69%.
Mạng lưới trường, lớp học không ngừng được đầu tư hoàn thiện, trường đạt chuẩn quốc gia ngày càng tăng. Tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia tăng từ 35,14% năm 2015 lên năm 50,82% năm 2018. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2018 đạt 99,15%, xếp thứ 2 các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Trên địa bàn tỉnh có thêm 03 bệnh viện mới được đưa vào hoạt động (trong đó có 02 bệnh viện tư nhân), Bệnh viện đa khoa tỉnh được cải tạo nâng cấp, nâng tỷ lệ giường bệnh đạt 24 giường/vạn dân, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Tỷ lệ bác sĩ đạt 6,52 bác sĩ/vạn dân và 33,35 cán bộ y tế/vạn dân (mục tiêu đến năm 2020: đạt tỷ lệ 7,9 bác sĩ/vạn dân và 43 CBYT/vạn dân). 100% trạm y tế xã đạt Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế ngày càng cao, đến cuối năm 2018 đạt 82% dân số và đạt mục tiêu nhiệm kỳ.
Trong 6 tháng đầu năm 2019, tỉnh tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đào tạo nghề, giải quyết việc làm; tổ chức tốt các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019, quan tâm chăm lo tết cho gia đình chính sách và hộ nghèo. Triển khai phát động đợt cao điểm vận động Quỹ "Vì người nghèo" và an sinh xã hội năm 2019, đến nay đã vận động được 9,6 tỷ đồng. Tổ chức tốt Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 và kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019. Thi học sinh giỏi quốc gia năm 2019 đạt 10 giải, tăng 04 giải so với năm 2018.
Ngành y tế tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất; chủ động phòng, chống dịch bệnh, xử lý kịp thời; thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm. Tỷ lệ tham gia BHYT chiếm 84,1% dân số; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch nông thôn đạt 85,4%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết năm 2019 và chỉ tiêu của cả nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X.
4.1.3. Công tác thông tin đối ngoại và hội nhập quốc tế
Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 38-CT/TW, ngày 21/7/2014 của Bộ Chính trị "về tăng cường quản lý các đoàn đi nước ngoài", đảm bảo thực hiện tốt 4 tiêu chí Thủ tướng Chính phủ đề ra[2]. Các hoạt động ngoại giao được triển khai hiệu quả, góp phần quảng bá sâu rộng hơn về truyền thống văn hóa, con người, tiềm năng phát triển của tỉnh. Thực hiện tốt các thỏa thuận quốc tế do địa phương ký kết[3]. Hiện có 90 tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại tỉnh Vĩnh Long; viện trợ, tài trợ trên 221 tỷ đồng để thực hiện các chương trình, dự án trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội, giao thông nông thôn.
4.1.4. Quốc phòng, an ninh, nội chính và phòng, chống tham nhũng
Xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại[4]. Lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,52% dân số; tỷ lệ đảng viên trong dân quân tự vệ đạt 25,37%; 100% xã, phường, thị trấn có chi bộ quân sự. Công tác tuyển quân hằng năm đều đạt 100% chỉ tiêu.
Lãnh đạo thực hiện tốt công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, kịp thời giải quyết những vấn đề nổi lên về an ninh trật tự tại cơ sở.
Chỉ đạo thực hiện nghiêm công tác phòng, chống tham nhũng, nhất là "tham nhũng vặt", Tỉnh ủy ban hành Công văn số 1468-CV/TU, ngày 25/01/2019, về công tác phòng, chống tham nhũng, nhất là "tham nhũng vặt" trên địa bàn tỉnh và Công văn số 1515-CV/TU, ngày 14/3/2019, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Lãnh đạo thực hiện hiệu quả công tác điều tra khám phá án, khởi tố bị can, trong 3 năm phát hiện 09 vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, đã khởi tố 8 vụ và 01 vụ xử lý hành chính. Thực hiện nghiêm công tác truy tố, xét xử, thi hành án, thanh tra, kiểm tra... góp phần răn đe, giáo dục, ngăn chặn và từng bước đẩy lùi các vụ việc vi phạm và tham nhũng, tham nhũng vặt.
Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; phòng, chống tham nhũng được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo thực hiện tốt. Giải quyết kịp thời các vụ khiếu nại đông người, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật xã hội.
Trong 6 tháng đầu năm 2019, tình hình an ninh chính trị tiếp tục được giữ vững, không để xảy ra các điểm nóng về an ninh trật tự. Thực hiện tuyển quân năm 2019 đạt chỉ tiêu với 1.153 tân binh. Trật tự an toàn xã hội ổn định, giảm 153 vụ vi phạm, chết giảm 2 người, bị thương giảm 85 người, thiệt hại tài sản giảm 16 tỉ đồng. Riêng tai nạn giao thông giảm 38 vụ, chết giảm 12 người, bị thương giảm 59 người, thiệt hại tài sản giảm khoảng 710 triệu đồng.
Cơ quan hành chính các cấp trong tỉnh tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý giải quyết 100% đơn thư khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền. Lãnh đạo tỉnh hàng tháng đều có quan tâm chỉ đạo, tổ chức tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo Quy định số 11-QĐi/TW, ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; phòng chống tham nhũng được thực hiện khá tốt.
4.1.5. Về xây dựng hệ thống chính trị
Triển khai, quán triệt kịp thời các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương. Thực hiện nghiêm công tác kiểm điểm, tự phê bình và phê bình gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị.
Năm 2016, 2017, 2018 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo gợi ý kiểm điểm 38 tập thể, 10 cá nhân; ban thường vụ các cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy gợi ý kiểm điểm 48 tập thể và 55 cá nhân[5]. Nhìn chung hầu hết tập thể, cá nhân các đồng chí ủy viên ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy các cấp, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên không có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện nhiều cuộc vận động mang lại kết quả tích cực, như: Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; Cuộc vận động Quỹ "Vì người nghèo"....; đồng thời thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Hệ thống một cửa điện tử hiện đại cấp huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hoạt động ổn định. Triển khai, bàn giao thiết bị dự án mở rộng một cửa điện tử cấp xã cho 18 đơn vị, nâng tổng số triển khai một cửa điện tử cấp xã hiện nay lên 28 đơn vị. Hiện nay, tỉnh đang vận hành thử nghiệm Hệ thống thông tin điện tử của các sở, ngành thực hiện hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông thuộc Dự án Chính quyền điện tử. Toàn tỉnh có 48 dịch vụ công mức 4; 521 dịch vụ công mức 3, còn lại 1.225 đạt mức 2.
Hoàn thành điều chỉnh, bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các chức danh chủ chốt cấp tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025, 2021 - 2026. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, toàn tỉnh kết nạp 5.576 đảng viên, đạt 79,66% chỉ tiêu nghị quyết, nâng tổng số đảng viên toàn đảng bộ lên 41.336 đồng chí. Chỉ đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đạt yêu cầu. Thực hiện tốt các nội dung "Năm Dân vận chính quyền".
Thực hiện Nghị quyết 18, 19 của Trung ương đạt nhiều kết quả nổi bật như: Tổ chức Văn phòng cấp ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy; ban hành Đề án Hợp nhất Đảng ủy khối Các cơ quan, Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh và Đề án thí điểm hợp nhất Văn phòng Thị ủy với Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân thị xã Bình Minh... Về thực hiện nhất thể hóa, kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu: thực hiện Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy kiêm Hiệu trưởng Trường chính trị Phạm Hùng; 1/8 huyện thực hiện Bí thư đồng là chủ tịch UBND; 6/8 huyện thực hiện Trưởng Ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị; 6/8 huyện thực hiện Trưởng Ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch UBMTTQ; 1/8 huyện thực hiện Trưởng Ban Tổ chức kiêm Trưởng phòng Nội vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra kiêm Chánh Thanh tra.
Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW đã giảm 01 đầu mối cấp tỉnh; 01 đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; 25 phòng và tương đương thuộc các sở, ban ngành cấp tỉnh; 02 phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; giảm 01 cấp trưởng, 01 cấp phó ngành tỉnh; 35 cấp trưởng, 38 cấp phó phòng và tương đương. Thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW giảm 64 đơn vị sự nghiệp công lập, thành lập mới 03 đơn vị.
Trong 6 tháng đầu năm 2019, các cấp ủy thực hiện tốt công tác nhận xét, đánh giá, kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Toàn tỉnh đã hoàn thành kiểm điểm 47 tập thể, 36 cá nhân. Thực hiện đầy đủ, kịp thời công tác cán bộ. Kết nạp 481 đảng viên, đạt 40% chỉ tiêu Nghị quyết; xóa tên 43, cho ra 42 đảng viên.
Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đúng chương trình, kế hoạch đề ra. Kiểm tra, giám sát theo điều 30 Điều lệ Đảng: có 7 tổ chức đảng và 10 đảng viên thực hiện chưa tốt và còn hạn chế, thiếu sót. Kiểm tra, giám sát theo Điều 32 Điều lệ Đảng: có 12 tổ chức đảng, 4 đảng viên còn hạn chế và 2 đảng viên vi phạm. Giải quyết 12 trường hợp tố cáo đối với đảng viên, có 02 trường hợp vi phạm. Thi hành kỷ luật 61 đảng viên, giảm 01 đảng viên so cùng kỳ.
Tổ chức thành công 02 kỳ họp HĐND, ban hành 27 nghị quyết. Cụ thể hóa các các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc của tỉnh. Tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ, đưa vào hoạt động Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh; thực hiện các giải pháp hỗ trợ sản xuất, đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới mô hình tăng trưởng…
Tổ chức thành công Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh; Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên cấp cơ sở và Đại hội điểm Hội Liên hiệp Thanh niên huyện Vũng Liêm. Các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện tốt các chương trình do Trung ương phát động, tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và tổ chức các chương trình hoạt động ý nghĩa, thiết thực.
4.2. Đánh giá chung
4.2.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân
Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đang trong giai đoạn phục hồi và phát triển bền vững hơn; qui mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp tiếp tục phát triển; xuất khẩu tăng, các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch có nhiều chuyển biến tích cực. Vận động, thu hút đầu tư vào tỉnh đạt kết quả khá.
Hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới của cả nhiệm kỳ. Đời sống xã hội trên địa bàn khởi sắc hơn. Các chính sách an sinh và phúc lợi xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm đạt kết quả, xuất khẩu lao động đạt kết quả cao. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, giữ vững.
Công tác triển khai, quán triệt và tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy và cấp ủy địa phương kịp thời; hoàn thành sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh theo quy định. Tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên trực tiếp đối thoại với nhân dân, lắng nghe và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân.
* Nguyên nhân đạt được
Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước không ngừng được đổi mới phù hợp với thực tiễn cuộc sống; thu hút được sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp, người dân. Đặc biệt, được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Trung ương Đảng; sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương.
Sự đoàn kết, tập trung thống nhất của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong tỉnh. Có sự đổi mới tư duy và phong cách lãnh đạo của từng cấp từng cấp, từng ngành nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính năng động, tiên phong, gương mẫu, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ.
Việc tổ chức triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp có chọn khâu đột phá, trọng điểm để huy động, lồng ghép các nguồn lực thực hiện trong từng năm.
Thường xuyên tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện tại các cấp quản lý. Phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo, đặc biệt là tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, năng lực của công chức, viên chức và người lao động.
4.2.2. Hạn chế, khó khăn và nguyên nhân
Nhiều chỉ tiêu kinh tế đạt còn thấp so với mục tiêu đề ra. Chưa có nhiều dự án tạo năng lực tăng thêm, đột phá trong sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp phát triển chưa bền vững và tiềm ẩn nhiều rủi ro, chưa hình thành rõ nét chuỗi giá trị cũng như thương hiệu mạnh cho một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít, năng lực và tài chính hạn chế; công nghiệp phát triển chưa gắn phát triển nông nghiệp.
Thu ngân sách tuy đáp ứng kịp thời cho các nhiệm vụ chi của tỉnh nhưng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt năm 2017, 2018 và 6 tháng đầu năm 2019 một số nguồn thu đạt thấp và không đạt dự toán giao, ảnh hưởng đến điều hành ngân sách của tỉnh.
Các thiết chế văn hóa xã nông thôn mới được đầu tư nhưng chưa phát huy hết hiệu quả. Nhiều xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nhưng gặp khó khăn trong duy trì các tiêu chí theo quy định.
Tệ nạn xã hội về ma túy, tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật, bị xâm hại diễn biến phức tạp[6]. Số đảng viên bị xóa tên, cho ra khỏi đảng còn nhiều.
* Nguyên nhân
Tình hình chính trị thế giới và khu vực diễn biến phức tạp. Một số Hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thay đổi nên việc mở rộng dự án đầu tư, thu hút vốn FDI và đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp của tỉnh không như kỳ vọng.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng thấp, trong khi huy động các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách còn hạn chế. Chính sách ưu đãi đầu tư chưa hợp lý giữa các tỉnh, thành. Hạ tầng giao thông trên một số tuyến quan trọng chưa được cải tạo nâng cấp đồng bộ nên có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thu hút đầu tư vào tỉnh.
Công tác dự báo còn hạn chế đã ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện và hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh.
Biến đổi khí hậu, đặc biệt là ảnh hưởng của hạn mặn năm 2016 đã tác động xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận người dân, doanh nghiệp và đến nay chưa hồi phục hoàn toàn so với giai đoạn trước.
Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, thiếu tính liên kết, chưa hình thành rõ nét chuỗi giá trị cũng như thương hiệu mạnh cho một số mặt hàng nông sản chủ lực. Phần lớn doanh nghiệp công nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu chiến lược, khó đứng vững khi thị trường có biến động bất lợi.
Chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư của tỉnh chưa đủ hấp dẫn và tạo ra đột phá trong thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Chưa thu hút được nhà đầu tư có tiềm lực mạnh, tạo ra giá trị sản xuất lớn có tác động hỗ trợ dẫn dắt phát triển các chuỗi sản xuất và tạo đột phá trong phát triển kinh tế.
4.3. Nhiệm vụ từ nay đến cuối nhiệm kỳ
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với những kết quả đạt được khá toàn diện, tích cực từ đầu nhiệm kỳ đến nay; Đảng bộ Vĩnh Long quyết tâm nỗ lực phấn đấu với tinh thần trách nhiệm cao nhất nhằm hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
4.3.1. Về Kinh tế - xã hội
Tiếp tục cơ cấu lại các ngành kinh tế, trọng tâm là nông nghiệp, công thương, du lịch theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; nâng chất các tiêu chí ở những xã đã đạt nông thôn mới.
Tiếp tục rà soát, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo gắn với sắp xếp tinh gọn bộ máy các trường công lập. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Đẩy nhanh lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân; phấn đấu đến năm 2020 có 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế.
4.3.2. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, hội nhập quốc tế
Tiếp tục tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, chú trọng định hướng cho các cơ quan báo chí quảng bá hình ảnh, địa danh, con người, môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh.
Đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa Vĩnh Long với các tỉnh, thành phố trong và ngoài nước. Trong đó, chú trọng hợp tác, mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học và tổ chức trong và ngoài nước xây dựng, phản biện các cơ chế chính sách phát triển kinh tế; đổi mới giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
4.3.3. Quốc phòng, an ninh, nội chính và phòng, chống tham nhũng
Tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, lấy chính trị làm cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang.
Tăng cường công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, quyết tâm triệt xóa các loại băng nhóm trên địa bàn. Tiếp tục kéo giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí.
Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Chủ động giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãng công, nhất là các vụ việc liên quan đến đất đai, tôn giáo, dân tộc không để kẻ địch lợi dụng kích động chống phá.
Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là tham nhũng vặt theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương. Tăng cường thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Thực hiện nghiêm các kết luận kiến nghị của cơ quan kiểm tra Trung ương, kiểm toán nhà nước. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của người dân.
4.3.4. Xây dựng Đảng
Chú trọng thực hiện nêu gương; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, nhà nước theo quy định; nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật trong Đảng, đặc biệt ở những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm để góp phần ngăn ngừa, phòng ngừa vi phạm của các tổ chức đảng và đảng viên.
Chuẩn bị tốt mọi mặt để tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025.
=> Qua 45 năm xây dựng và phát triển kinh tế, tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng không tránh khỏi những hạn chế, qua đó có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng vào tình hình, điều kiện thực tiễn của địa phương. Trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành phải xác định đúng những vấn đề then chốt, bức xúc, đột phá để tập trung thực hiện.
Hai là, không ngừng đổi mới, tự hoàn thiện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút có hiệu quả các nguồn lực đầu tư để đẩy nhanh tốc độ phát triển trên tinh thần phát huy nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đặc biệt tập trung cho những dự án có quy mô lớn, phù hợp với lợi thế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ba là, phát triển bền vững, phát triển kinh tế phải gắn chặt với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường. Hết sức chú trọng yếu tố khoa học công nghệ và kinh tế tri thức trong tăng trưởng kinh tế. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, nhất là đối với người nghèo, Nhân dân ở vùng khó khăn. Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
