Trong dòng chảy báo chí dân tộc, các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mang một sức sống đặc biệt bởi phía sau mỗi con chữ là một nền tảng tri thức rộng lớn, một tấm lòng nhân ái và một khát vọng cháy bỏng về tự do, phẩm giá con người. Chính chiều sâu văn hóa ấy đã làm nên giá trị bền vững của báo chí Hồ Chí Minh và tạo nên sự khác biệt căn bản với nền báo chí thực dân từng tồn tại trước đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của những người làm báo cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu TTXVN.
Báo chí vốn là một bộ phận của đời sống văn hóa, nhưng không phải mọi sản phẩm báo chí đều mang giá trị văn hóa chân chính. Dưới chế độ tư bản giá trị văn hóa ấy bị vi phạm nghiêm trọng về quyền con người, ở chế độ thực dân giá trị con người lại bị chà đạp, hành hạ: “Dưới chiêu bài dân chủ, đế quốc Pháp đã đem vào Việt Nam tất cả cái chế độ trung cổ đáng nguyền rủa... người nông dân Việt Nam bị hành hình vừa bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm”[1]. Dưới chế độ thực dân, báo chí bị biến thành công cụ tuyên truyền phục vụ cho chính sách nô dịch, gieo rắc tư tưởng lệ thuộc và làm tha hóa con người. Trái lại, báo chí Hồ Chí Minh hướng đến việc giải phóng con người, thức tỉnh dân tộc và khơi dậy khát vọng sống nhân văn. Giá trị văn hóa trong các tác phẩm báo chí của Người không chỉ nằm ở nội dung phản ánh mà còn ở lý tưởng phục vụ con người, ở cách nhìn đầy nhân bản đối với số phận của những dân tộc bị áp bức.
Xuyên suốt hành trình cầm bút của Hồ Chí Minh là tư tưởng bảo vệ quyền con người. Người luôn xem độc lập dân tộc gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Từ những bài báo đầu tiên viết trên đất Pháp cho đến bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, Người đều nhấn mạnh quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là những giá trị thiêng liêng không thể bị tước đoạt: “Tất cả con người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[2]. Điều đáng chú ý là Hồ Chí Minh không tách rời quyền dân tộc với quyền con người. Theo Người, một dân tộc bị áp bức thì con người trong dân tộc ấy không thể có tự do thực sự. Chính vì vậy, đấu tranh giải phóng dân tộc đồng thời cũng là cuộc đấu tranh vì nhân phẩm và giá trị con người.
Từ lập trường nhân văn đó, Người đã lên án mạnh mẽ bản chất phản văn hóa của chủ nghĩa thực dân. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày sự giả dối của cái gọi là “khai hóa văn minh” mà thực dân Pháp rêu rao. Dưới lớp vỏ mỹ miều của khẩu hiệu dân chủ là những chính sách ngu dân, đàn áp và hủy hoại văn hóa bản địa. Người chỉ ra rằng thực dân Pháp không chỉ bóc lột về kinh tế mà còn tìm cách triệt tiêu đời sống tinh thần của các dân tộc thuộc địa, từ việc hạn chế giáo dục, kiểm soát báo chí cho đến xúc phạm truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt Nam.
Ở nhiều bài báo, Hồ Chí Minh đã nhìn sự áp bức không chỉ dưới góc độ chính trị mà còn như một tội ác văn hóa. Người đau xót khi chứng kiến hình ảnh dân tộc Việt Nam bị bôi nhọ tại các hội chợ thuộc địa ở Pháp, nơi những hình ảnh nghèo nàn, lạc hậu bị cố tình chọn lựa để đại diện cho cả một dân tộc có nền văn hiến hàng nghìn năm. Đó không đơn thuần là sự xuyên tạc hình ảnh quốc gia mà còn là thái độ khinh miệt văn hóa của kẻ xâm lược đối với nhân dân thuộc địa.
Không dừng lại ở việc tố cáo thực dân Pháp, Hồ Chí Minh còn lên án mọi biểu hiện phi nhân tính của chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới. Bài báo “Hành hình kiểu Linsơ” với bút danh Nguyễn Ái Quốc là một minh chứng tiêu biểu, bài báo này đăng trên nhật báo Dieweltribune. Theo tác giả, tục hành hình kiểu Linsơ (Lynch) là tàn ác nhất, ghê tởm nhất, gây bao nhiêu thống khổ ghê gớm về tinh thần và vật chất đối với người da đen châu Mỹ, tiếng rằng đã được giải phóng 65 năm nay. Lối hành hình này đã trở thành phổ biến và kéo dài ở khắp các bang của nước Mỹ. Sau khi kể lại cụ thể và chi tiết cảnh nạn nhân bị hành hình như thế nào, bài báo cho biết: trong vòng 30 năm (1889 - 1919) đã có 2.600 người da đen, trong đó có 51 phụ nữ bị hành hình một cách khủng khiếp như vậy. Cũng trong 30 năm ấy, 708 người da trắng, trong đó có 11 phụ nữ, đã bị hành hình theo kiểu trên vì họ tổ chức bãi công hoặc vì đồng tình với cuộc đấu tranh của người da đen. Vậy mà, “những thủ phạm chính không bao giờ bị làm rầy rà, chỉ đơn giản là vì họ luôn luôn được bọn chính khách, bọn tài chính, bọn cầm quyền và nhất là báo chí phản động kích thích, khuyến khích, xúi bẩy, rồi lại bao che”. Kết luận bài báo, tác giả viết: “Hành hình kiểu Linsơ thật đáng chiếm một vị trí vinh dự trong bộ sưu tập toàn bộ những tội ác của nền “văn minh” Mỹ”.
Với lối viết sắc lạnh nhưng đầy cảm xúc, Người tái hiện sự tàn bạo của nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ như một bản cáo trạng đối với nền “văn minh” giả hiệu của chủ nghĩa đế quốc. Qua ngòi bút của Người, báo chí không còn đơn thuần là thông tin mà trở thành tiếng nói của lương tri, của công lý và của khát vọng bảo vệ con người trước bạo lực và bất công.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh với các bút danh như C.B, T.L, Trần Lực, Chiến sĩ… đã viết nhiều bài báo như Đời sống ở Mỹ, Đạo đức Mỹ, Tự do và hòa bình kiểu Mỹ… để phê phán xã hội Mỹ trên phương diện văn hóa và đạo đức. Người chỉ ra rằng nước Mỹ tuy giàu mạnh, hiện đại nhưng lại tồn tại nhiều bất công, tệ nạn và bạo lực. Hồ Chí Minh lên án lối sống chạy theo đồng tiền, tình trạng phân biệt chủng tộc, tội phạm và chiến tranh xâm lược núp dưới chiêu bài “tự do”, “dân chủ”. Qua những bài viết ấy, Người giúp nhân dân ta thấy rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và khẳng định giá trị của một nền văn hóa nhân văn, vì con người.
Trang Báo Nhân Dân, số 3380, ngày 29-6-1963, tr.4. với bài viết “Hòa bình kiểu Mỹ tức là binh họa”, bút danh Chiến sĩ (Ảnh tư liệu)
Trong các tác phẩm báo chí của mình, Người vận dụng rất sáng tạo những kiến thức văn hóa văn nghệ vào chính trị làm cho các vấn đề đặt ra trở nên thuyết phục một cách tự nhiên và sâu sắc. Điều đáng quý là Người không viện dẫn tri thức nhằm phô bày sự uyên bác mà để làm sáng rõ vấn đề, tăng sức thuyết phục và nâng tầm tư tưởng cho bài viết. Hồ Chí Minh luôn biết cách chuyển tải những vấn đề chính trị thành những vấn đề văn hóa gần gũi với đời sống con người. Qua những tác phẩm báo chí, Hồ Chí Minh đã vận dụng một vốn kiến thức rộng lớn, cổ, kim, phương Đông, phương Tây làm mặt bằng văn hóa cho báo chí. Người nói về cách mạng nhưng không khô cứng giáo điều; ngược lại, những bài viết luôn giàu hình ảnh, cảm xúc và sức gợi. Khi phê phán cái ác, Người không chỉ sử dụng lập luận mà còn đánh thức lương tri bằng những chi tiết chân thực và giàu tính nhân đạo. Chính điều đó khiến báo chí của Người có sức lay động sâu sắc đối với người đọc. Báo chí của Người gắn bó sâu sắc với đời sống xã hội, đời sống xã hội được Người tìm hiểu, nhận thức và phản ánh trên nhiều phương diện. Sự am hiểu sâu sắc bản chất của cuộc sống ở mỗi thời kỳ lịch sử, nhận thức rõ những vấn đề đang đặt ra của xã hội và tìm hướng giải quyết bao giờ cũng là vấn đề quan trọng nhất của hoạt động báo chí. Tất cả những yêu cầu trên đều có thể tìm thấy ở tác phẩm báo chí của Hồ Chí Minh.
Dù tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh vẫn luôn giữ vững cốt cách văn hóa dân tộc. Những câu ca dao, tục ngữ, những áng văn cổ như Chinh phụ ngâm hay Truyện Kiều xuất hiện trong nhiều bài viết của Người với sự vận dụng linh hoạt và đầy tinh tế. Người am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán, đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam và luôn trân trọng những giá trị đạo đức truyền thống như nghĩa tình, hiếu học, lòng yêu nước và tinh thần cộng đồng. Chính vốn văn hóa dân tộc ấy đã tạo nên bản sắc riêng trong phong cách báo chí Hồ Chí Minh.
Điều làm nên tầm vóc đặc biệt của chiều sâu văn hóa trong các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh còn nằm ở sự hòa quyện giữa trí tuệ và nhân cách. Trong từng bài viết, người đọc không chỉ bắt gặp một nhà cách mạng sắc sảo mà còn cảm nhận được một tâm hồn lớn, luôn đau đáu trước nỗi đau của con người và vận mệnh của dân tộc. Với Người, viết báo là để phụng sự nhân dân, bảo vệ cái đẹp, đấu tranh chống lại cái xấu và mở đường cho những giá trị tiến bộ.
Ngày nay, trong bối cảnh báo chí hiện đại phát triển mạnh mẽ cùng mạng xã hội và truyền thông số, những giá trị văn hóa trong báo chí Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên ý nghĩa và giá trị lịch sử. Đó là bài học về trách nhiệm xã hội của người cầm bút, về sự trung thực, nhân văn và chiều sâu tri thức trong mỗi tác phẩm báo chí. Một nền báo chí thực sự có giá trị không chỉ cung cấp thông tin mà còn phải góp phần nâng cao văn hóa, bồi đắp nhân cách và hướng con người đến những giá trị chân - thiện - mỹ. Di sản báo chí của Hồ Chí Minh vì thế không chỉ là di sản chính trị mà còn là một di sản văn hóa lớn lao của dân tộc Việt Nam và nhân loại. Những trang viết của Người đến hôm nay vẫn giữ nguyên sức sống bởi trong đó luôn hiện diện tình yêu thương con người, khát vọng tự do và ánh sáng của văn hóa nhân văn tiến bộ.
Ngọc Thư
