Logo vinh long
BANNER BCQH KHOA XVI-03-03.jpg
Thông tin cần biết

Những điểm mới mang tính đột phá của Nghị quyết số 68-NQ/TW “Về phát triển kinh tế tư nhân"

Quế Nương
22/06/2025

Ngày 04/5/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW “Về phát triển kinh tế tư nhân" (Nghị quyết số 68-NQ/TW), đã đánh dấu mốc lịch sử, không chỉ khẳng định vai trò then chốt mà còn thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối, mở ra cơ hội chưa từng có cho kinh tế tư nhân vươn lên trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam.

Trải qua gần 40 năm đổi mới, từ Đại hội VI (1986) đến nay, Đảng ta đã từng bước phát triển nhận thức và hoàn thiện chủ trương về vai trò của kinh tế tư nhân. Nếu như trong Cương lĩnh 1991 và các nghị quyết Trung ương thời kỳ đầu đổi mới, kinh tế tư nhân chỉ được thừa nhận như một bộ phận bổ trợ của nền kinh tế, thì qua các kỳ Đại hội IX, X và XI, Đảng đã dần nâng cao vị thế của khu vực này. Đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ Năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mới, toàn diện và đột phá hơn. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã ra đời trong bối cảnh đó, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển và khát vọng vươn lên của quốc gia.

 

Điểm mới đầu tiên và quan trọng nhất của Nghị quyết số 68-NQ/TW là sự khẳng định mạnh mẽ và nâng tầm vai trò của kinh tế tư nhân. Nếu như trước đây, các nghị quyết chỉ ghi nhận kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, thì nay, lần đầu tiên, Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, giữ vai trò nòng cốt cùng với kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Sự khẳng định này không chỉ là sự phát triển của tư duy lý luận mà còn là sự công nhận thực tiễn vai trò to lớn của khu vực kinh tế tư nhân trong gần 40 năm qua.

 

Nếu như các nghị quyết trước đó chủ yếu khuyến khích phát triển số lượng doanh nghiệp, thì Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra các mục tiêu cụ thể và đầy kỳ vọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Đến năm 2045, phấn đấu có ít nhất 03 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP, đồng thời có các doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đây là lần đầu tiên, mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân được cụ thể hóa với tầm nhìn dài hạn, thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước.

 

Một đột phá quan trọng nữa của Nghị quyết số 68-NQ/TW là chuyển đổi căn bản tư duy quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân. Các nghị quyết trước đây thường nhấn mạnh vai trò quản lý, kiểm tra của Nhà nước, nhiều khi dẫn đến những rào cản hành chính. Nghị quyết số 68- NQ/TW xác định rõ nhà nước phải chuyển sang vai trò kiến tạo, phục vụ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời thực hiện chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Nguyên tắc doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm được đề cao, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thông lệ của các nền kinh tế phát triển.

 

Khác với các nghị quyết trước, Nghị quyết số 68- NQ/TW lần đầu tiên đưa ra các chính sách rất cụ thể và có tính đột phá để hỗ trợ phát triển thị trường vốn cho kinh tế tư nhân. Không chỉ dừng ở cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, Nghị quyết còn đề xuất phát triển tín dụng xanh, khuyến khích cho vay ngang hàng, thiết lập quỹ tái bảo lãnh, đồng bảo lãnh và xây dựng khung pháp lý cho các hình thức gọi vốn cộng đồng. Các cơ chế nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm và nghiên cứu chứng khoán hóa nợ cũng lần đầu tiên được nêu rõ. Đây là bước tiến lớn nhằm giải quyết điểm yếu cố hữu của kinh tế tư nhân Việt Nam là thiếu vốn trung và dài hạn.

 

Một điểm nổi bật khác là lần đầu tiên, một nghị quyết của Đảng không chỉ khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh mà còn đưa ra các cơ chế tài chính cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp trong những lĩnh vực này. Chính sách khấu trừ thuế gấp đôi chi phí nghiên cứu và phát triển, miễn thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và công ty quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm là những chính sách chưa từng có tiền lệ, thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân.

 

Đặc biệt, Nghị quyết số 68- NQ/TW đã có bước tiến quan trọng trong bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và bảo vệ doanh nhân. Chủ trương ưu tiên các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính trước khi xử lý hình sự đối với các vi phạm kinh tế, khẳng định nguyên tắc suy đoán vô tội và phân biệt rõ trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, dân sự. Đây là tư duy pháp lý tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo dựng niềm tin và sự yên tâm cho doanh nghiệp và doanh nhân. Lần đầu tiên, vai trò của doanh nhân trong việc tham gia xây dựng chính sách và quản trị đất nước được nhấn mạnh rõ ràng. Đảng coi doanh nhân không chỉ là người sản xuất, kinh doanh mà còn là lực lượng đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm và khát vọng phát triển quốc gia. Chính sách đào tạo 10.000 giám đốc điều hành và thúc đẩy văn hóa kinh doanh, đạo đức doanh nghiệp được đưa vào nghị quyết, thể hiện tầm nhìn phát triển bền vững và dài hạn.

 

So với tất cả các nghị quyết trước đây về kinh tế tư nhân - từ các nghị quyết ban hành trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới cho đến Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017 - Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ kế thừa những tinh thần và nội dung quan trọng mà còn đánh dấu một bước phát triển toàn diện cả về nhận thức và hành động. Không chỉ khẳng định vai trò, nghị quyết còn cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp đồng bộ và thiết thực, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, mạnh, bền vững, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

 

Quế Nương​