Logo vinh long
Lịch sử Đảng bộ

Chuyên đề 1: Lược sử vùng đất Vĩnh Long

ĐCSVN
04/06/2025

​​Vĩnh Long là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai nhánh của sông Cửu Long (sông Mékong) là sông Tiền và sông Hậu. Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 1.487,37 km2, là tỉnh không rừng, không biển, không biên giới. Khí hậu ôn hòa với hai mùa mưa nắng khác rõ rệt. Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang; phía đông giáp tỉnh Bến Tre; phía đông nam giáp tỉnh Trà Vinh; phía tây giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía tây bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.

I. KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Vĩnh Long là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai nhánh của sông Cửu Long (sông Mékong) là sông Tiền và sông Hậu. Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 1.487,37 km2, là tỉnh không rừng, không biển, không biên giới. Khí hậu ôn hòa với hai mùa mưa nắng khác rõ rệt. Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang; phía đông giáp tỉnh Bến Tre; phía đông nam giáp tỉnh Trà Vinh; phía tây giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía tây bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.

Quốc lộ 1A đi qua tỉnh Vĩnh Long[1] có chiều dài khoảng 40 km từ cầu Mỹ Thuận (trên sông Tiền) đến cầu Cần Thơ[2] (trên sông Hậu).

Vĩnh Long có nhiều sông rạch chằng chịt, thông với nhau tạo nên một mạng lưới giao thông thủy thuận lợi cho việc đi lại của dân cư, chuyên chở hàng hóa và phục vụ tưới, tiêu cho ruộng, vườn. Đặc biệt, con sông Măng Thít nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu, đây là đường giao thông thủy huyết mạch giữa miền Đông và Tây Nam Bộ. Chính nhờ có hệ thống kênh, rạch, sông ngòi trên địa bàn tỉnh mà người nông dân có nước ngọt quanh năm[3], đáp ứng nhu cầu thâm canh, tăng vụ và đời sống sinh hoạt. Tính bình quân, cứ 10.000 m2 diện tích mặt đất tự nhiên thì có gần 900 m2 diện tích mặt nước sông rạch, kênh mương[4].

Vĩnh Long có nhiều cù lao lớn, nhỏ trên sông Tiền và sông Hậu như: cù lao An Bình (trên sông Tiền)[5]; cù lao Quới Thiện hay cù lao Dài (trên sông Cổ Chiên)[6]; cù lao Mây (trên sông Hậu)[7]. Đây là những vùng đất màu mỡ do phù sa bồi đắp, hình thành những vùng trồng cây ăn trái đặc sản của Vĩnh Long.

II. QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ TÊN GỌI

Trải qua các thời kỳ lịch sử, kể từ khi dinh Long Hồ được thành lập (1732) đến nay, Vĩnh Long nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính:

Năm 1732, vị chúa thứ 7 của dòng họ Nguyễn là Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú (1696-1738) đã tách phần đất ở phía Nam của dinh Phiên Trấn lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ. Lỵ sở đặt tại thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng (nay là huyện Cái Bè). Đây được xem là đơn vị hành chính đầu tiên ở vùng đất Tây Nam bộ ngày nay.

Năm 1757, đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, đã quyết định dời lỵ sở dinh Long Hồ về xứ Tầm Bào, thuộc địa phận Long Hồ thôn (thành phố Vĩnh Long ngày nay).

Năm 1779, chúa Nguyễn Ánh đổi tên dinh Long Hồ thành dinh Hoằng Trấn, lỵ sở đặt ở bãi Bà Lụa, thuộc Tuân Nghĩa, phủ Lạc Hóa (nay là xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh).

Năm 1780, đổi dinh Hoằng Trấn thành dinh Vĩnh Trấn, lỵ sở dời lại về xứ Tầm Bào như cũ.

Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, gồm 4 dinh: Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn (tức dinh Long Hồ trước đây), và Trấn Dinh. Dinh Vĩnh Trấn bao gồm: phủ Định Viễn và 3 huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh An và Tân An.

Đến năm 1806, vua Gia Long đổi tên trấn Gia Định thành thành Gia Định, đồng thời dinh Vĩnh Trấn cũng đổi thành trấn Vĩnh Thanh, còn châu Định Viễn thì gọi là phủ Định Viễn, các tổng được gọi là huyện như trước đây.

               Năm 1832, sau khi Minh Mạng lên ngôi đã tiến hành cuộc cải cách hành chính lớn, bãi bỏ Bắc thành và Gia Định thành, chia cả nước làm 30 tỉnh. Toàn bộ vùng đất Gia Định trước đây được chia thành 6 tỉnh, (còn gọi là Nam Kỳ lục tỉnh) gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Tên gọi Vĩnh Long bắt đầu có từ đây.

          Sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 27/6/1951 Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ban hành Nghị định số 174/NB-51 về việc thành lập tỉnh Vĩnh Trà trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh.

Tháng 10/1954, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ quyết định tách tỉnh Vĩnh Trà thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh như trước, tên gọi Vĩnh Long được giữ nguyên cho đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi (30/4/1975).

Tháng 02/1976, Chính phủ ra quyết định về việc thiết lập tỉnh Cửu Long trên cơ sở sáp nhập lại hai tỉnh: Vĩnh Long và Trà Vinh. Ngày 26/12/1991 theo Nghị quyết Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10 quyết định tách tỉnh Cửu Long thành hai tỉnh: Vĩnh Long và Trà Vinh. Tỉnh Vĩnh Long khi mới chia tách gồm 7 huyện, thị: Thị xã Vĩnh Long (nay là TP Vĩnh Long), huyện Long Hồ, Vũng Liêm, Tam Bình, Mang Thít, Bình Minh và Trà Ôn. Năm 2007, tách huyện Bình Minh thành hai huyện Bình Minh và Bình Tân và địa giới này ổn định cho đến ngày nay.

1. Thành phố Vĩnh Long

Theo Nghị định số 16/NĐCP của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 10/4/2009, thành lập thành phố Vĩnh Long (trên cơ sở thị xã Vĩnh Long trước đây) là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Vĩnh Long. Phía bắc giáp huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang và huyện Long Hồ, phía đông giáp huyện Long Hồ, phía tây và nam giáp huyện Long Hồ và huyện Châu Thành (Đồng Tháp).

Diện tích tự nhiên 48km2, có 11 phường (phường 1,2,3,4,5,8 và 9) và Tân Ngãi, Trường An, Tân Hòa, Tân Hội.

Về giao thông thủy, có 7 con sông đầu mối chảy qua. Có 4 quốc lộ đi qua như: quốc lộ 1A, 53, 57 và 80.

Dân số có khoảng 136.594 người.

Thành phố có 02 trường đại học, 03 trường cao đẳng và trung tâm dạy nghề, 04 trường trung học phổ thông, 08 trường trung học cơ sở và 20 trường tiểu học; có 01 bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm y tế, 03 bệnh viện chuyên khoa (bệnh viện mắt, bệnh viện tâm thần, bệnh viện lao và bệnh phổi), ngoài ra còn có 02 bệnh viện ngoài công lập là bệnh viện đa khoa Xuyên Á và Triều An - Loan Trâm, có 02 trung tâm văn hóa và các thiết chế phục vụ đời sống tinh thần.

Thành phố Vĩnh Long có 05 di tích cấp quốc gia: Văn Thánh miếu, Đình Long Thanh, Đình Tân Hoa, Thất Phủ miếu và Miếu Công Thần.

Thành phố Vĩnh Long và 02 đơn vị Phường 3 và xã Tân Hòa Bắc (nay là phường Tân Hòa và Tân Hội) được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.

2. Thị xã Bình Minh

Thị xã Bình Minh được thành lập theo nghị định số 89/NĐCP ngày 28/12/2012 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Phía bắc giáp huyện Bình Tân, phía đông giáp huyện Tam Bình, phía nam giáp huyện Trà Ôn và phía tây giáp Sông Hậu (Cần Thơ).

Diện tích tự nhiên 9.362 ha, có 03 phường: Cái Vồn, Thành Phước và Đông Thuận và 05 xã: Mỹ Hòa, Đông Thạnh, Đông Bình, Thuận An , Đông Thành. Phường Cái Vồn là trung Tâm nội ô của thị xã.

Thị xã Bình Minh nơi có quốc lộ 1A, cầu Cần Thơ và quốc lộ 54 đi qua. Nội ô có 09 tuyến đường, thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hóa.

Thị xã Bình Minh có 17 trường tiểu học, 08 trường trung học cơ sở; 02 trường trung học phổ thông, 01 trung tâm y tế và 6 trạm y tế xã, phường.

Bình Minh và các xã Đông Thành, Mỹ Hòa vinh dự được nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.

Bình Minh nổi tiếng với bưởi Năm Roi, tàu hủ ki, tương, chao, xà lách xoong…

3. Huyện Bình Tân

Huyện Bình Tân được thành lập theo Nghị định số 125/2007/NĐCP ngày 31/7/2007 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía đông giáp huyện Tam Bình, phía nam giáp thị xã Bình Minh, phía tây giáp sông Hậu (Cần Thơ). Diện tích tự nhiên 15.298 ha. Huyện có 12 xã: Tân Quới, Thành Lợi, Thành Đông, Thành Trung, Tân Lược, Tân Quới, Tân Bình, Tân Thành, Tân Hưng, Tân An Thạnh, Mỹ Thuận và Nguyễn Văn Thảnh.

Huyện Bình Tân có quốc lộ 54 và tỉnh lộ 908 đi qua, huyện có nhiều kinh rạch như: kinh xã Hời, kinh xã Khánh, kinh Mười Thới, Câu Dụng, Hai Quý… thuận tiện lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và đi lại và lưu thông hàng hóa.         Bình Tân có 01 trung tâm y tế, 01 trạm y tế kết hợp quân dân y và 11 trạm y tế xã, đều có bác sĩ khám trị bệnh cho dân: có 20 trường tiểu học, 12 trường trung học cơ sở và 03 phổ thông trung học.

Huyện Bình Tân và 02 xã Mỹ Thuận, Thành Lợi vinh dự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.

Huyện Bình Tân nổi tiếng với khoai lang

4. Huyện Mang Thít

Huyện Mang Thít được thành lập theo Quyết định số 50/CTHĐBT ngày 13/2/1992 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Huyện Mang Thít có hai mặt nằm cặp sông Măng Thít và sông Cổ Chiên. Phía bắc giáp huyện Long Hồ và sông Cổ Chiên, phía nam giáp huyện Tam Bình, phía đông giáp huyện Vũng Liêm (sông Măng Thít làm ranh giới), phía tây giáp Long Hồ và Tam Bình. Diện tích tự nhiên 15.777 ha.

Huyện có 13 xã và 01 thị trấn: Thị trấn Cái Nhum, xã Chánh Hội, An Phước, Bình Phước, Tân Long Hội, Tân An Hội, Chánh An, Mỹ An, Mỹ Phước, Long Mỹ, Nhơn Phú, Tân Long và Hòa Tịnh.

Có 6 bến đò, có quốc lộ 53 và tỉnh lộ 902, 903, 907, 909 đi qua, việc đi lại dễ dàng.

Huyện có 01 trung tâm y tế, 12 trạm y tế xã, 30 trường tiểu học, 12 trường trung học cơ sở, 3 trường trung học phổ thông.

Huyện Mang Thít có 4 xã vinh dự được nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là: Chánh Hội, Bình Phước, Tân Long Hội và Nhơn Phú.

Mang Thít nổi tiếng với các sản phẩm gạch, gốm.

5. Huyện Long Hồ

Huyện Long Hồ được thành lập theo Quyết định số 50/CTHĐBT ngày 13/2/1992 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Phía bắc giáp sông cổ Chiên (Cái Bè, Tiền Giang), phía đông giáp huyện Chợ Lách (Bến Tre) và huyện Mang Thít, phía nam giáp huyện Tam Bình, phía tây giáp huyện Châu Thành (Đồng Tháp).

Huyện Long Hồ có 01 thị trấn và 14 xã: thị trấn Long Hồ, xã Phú Đức, Long An, An Bình, Đồng Phú, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh, Thanh Đức, Long Phước, Phước Hậu, Lộc Hòa, Hòa Phú, Phú Quới, Thanh Quới và Tân Hạnh.

Diện tích tự nhiên toàn huyện là 19.298 ha.

Huyện có nhiều sông rạch chằng chịt: các sông lớn như cổ Chiên, sông Long Hồ, sông Ông Me, sông Cái Cau và nhiều kinh đào, hình thành hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất, đi lại. Đường bộ, có quốc lộ 1A, quốc lộ 53, 57 và 04 tỉnh lộ chạy qua giúp cho việc đi lại thuận tiện.

Huyện có 38 trường tiểu học, 17 trường trung học, 01 trường đại học và 01 trường cao đẳng nghề.

Long Hồ, có 4 xã cù lao: An Bình, Hòa Ninh, Đồng Phú, Bình Hòa Phước là vùng cây trái bốn mùa có chất lượng cao như: nhãn, chôm chôm và nhiều loại trái cây đặc sản khác. Vùng ven sông Cổ Chiên có nhiều nơi nuôi cá bè. Đây cũng là địa phương phát triển mạnh du lịch sinh thái, thu hút du khách trong và ngoài nước..

Long Hồ là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Vĩnh Long (tháng 3 năm 1930).

Huyện có 4 xã được công nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân gồm: Phú Quới, Phước Hậu, An Đức và xã Tân Hạnh.

6. Huyện Tam Bình

Phía Bắc giáp huyện Long Hồ và Mang Thít, phía Nam giáp thị xã Bình Minh, phía Đông giáp huyện Trà Ôn và Vũng Liêm, phía Tây giáp huyện Bình Tân và tỉnh Đồng Tháp.

Diện tích tự nhiên 27.972 ha.

Huyện Tam Bình có 01 thị trấn và 16 xã gồm: Bình Ninh, Hậu Lộc, Hòa Hiệp, Hòa Lộc, Hòa Thạnh, Loan Mỹ, Long Phú, Mỹ Lộc, Mỹ Thạnh Trung, Ngãi Tứ, Phú Lộc, Phú Thịnh, Song Phú, tân Lộc, Tân Phú, Tường Lộc.

Tam Bình có địa hình đất bằng phẳng, sản xuất chính là nông nghiệp, một số xã có giồng cát, có hệ thống sông ngòi chằng chịt, các sông lớn là: sông Măng Thít, sông Cái Cau, Cái Ngang và nhiều kênh đào như: Sóc Tro, Chà Và, Ông Đốc, Bô-kê (ông Kế)...

Về giao thông đường bộ, có 03 quốc lộ chạy qua là quốc lộ 1A, quốc lộ 53, 54; và các tỉnh lộ 904, 905, 908, 909… giúp cho việc đi lại của nhân dân được dễ dàng, thuận tiện.

Huyện có 36 trường tiểu học, 15 trường trung học cơ sở và 5 trường trung học phổ thông. Huyện có 01 trung tâm y tế và 16 xã đều có trạm y tế.

Huyện Tam Bình nơi có phong trào Đông Du rất phát triển, đứng thứ 3 trong cả nước, khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, giành được thắng lợi lớn ở Cái Ngang. Nơi xây dựng căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Huyện Tam Bình và các xã: Song Phú, Ngãi Tứ, Hòa Hiệp, Hậu Lộc, Mỹ Lộc, Bình Ninh được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.

Đặc sản nổi tiếng là cam sành, quít, bưởi và nhiều cây ăn trái khác.

7. Huyện Trà Ôn

Huyện Trà Ôn phía tây bắc giáp huyện Tam Bình, phía đông nam giáp huyện cầu Kè (Trà Vinh); phía đông giáp Vũng Liêm; phía tây giáp thị xã Bình Minh và sông Hậu (Cần Thơ).

Diện tích tự nhiên 25.837 ha. Trà Ôn có 01 thị trấn và 13 xã gồm: Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Hòa Bình, Trà Côn, Thới Hòa, Tân Mỹ, Thiện Mỹ, Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Phú Thành và Lục Sĩ Thành.

Trà Ôn nằm cặp phía bắc sông Hậu, có sông Trà Ôn và kinh Xáng Ni-cô-lai với nhiều sông nhỏ chằng chịt đem nước tưới tiêu cho đồng ruộng.

Có quốc lộ 54 đi qua, có 03 tỉnh lộ 901, 906 và 907 cùng với các đường liên huyện tráng nhựa tạo cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa thuận tiện.

Huyện Trà Ôn có 66 trường tiểu học, 15 trường trung học cơ sở và 5 trường phổ thông trung học. Huyện có 01 trung tâm y tế và 14 trạm y tế.

Huyện Trà Ôn là nơi thành lập Tỉnh ủy Vĩnh Long (ngày 15/2/1931) tại Ba (Nhơn Bình) và là nơi thành lập tổ chức đầu tiên cũng tại Ba Chùa.

Huyện Trà Ôn và các xã Tích Thiện, Xuân Hiệp, Vĩnh Xuân, Hòa Bình, Trà Côn, Lục Sĩ Thành và thị trấn Trà Ôn được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.

8. Huyện Vũng Liêm

Huyện Vũng Liêm phía Bắc giáp huyện Mang Thít, phía Nam giáp huyện Càng Long (Trà Vinh); phía Đông giáp tỉnh Bến Tre; phía Tây giáp huyện Trà Ôn và huyện Tam Bình.

Diện tích tự nhiên 29.414 ha. Vũng Liêm có 01 thị trấn và 19 xã gồm: Quới An, Thanh Bình, Quới Thiện, Tân Quới Trung, Tân An Luông, Trung Thành, Trung Thành Đông, Trung Thành Tây, Trung Ngãi, Trung Nghĩa, Hiếu Phụng, Hiếu Thuận, Hiếu Nhơn, Hiếu Thành, Hiếu Nghĩa, Trung Chánh, Trung Hiệp, Trung Hiếu và Trung An.

Vũng Liêm nằm ở phía Nam hữu ngạn bờ sông cổ Chiên, có nhiều sông rạch như sông cổ Chiên, sông Măng Thít và sông Vũng Liêm và nhiều kinh rạch chằng chịt dẫn nước tưới tiêu đồng ruộng. Về đường bộ: có quốc lộ 53 đi qua và 4 đường tỉnh lộ 901, 902, 906, 907 đi ngang.

Huyện có 46 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở, 4 trường trung học phổ thông. Huyện có 01 trung tâm y tế, 20 trạm y tế.

Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, Vũng Liêm đã giành thắng lợi và làm chủ quận lỵ trong 8 giờ liền. 

Huyện Vũng Liêm và các xã Hiếu Thành, Tân An Luông, Trung Ngãi, Trung Thành, Trung Hiếu, Trung Hiệp được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Tập đoàn 8 xã Hiếu Thành được phong tặng Anh hùng Lao động.

                    III. MỘT SỐ ĐỊA DANH TIÊU BIỂU

  1. Ngã tư Long Hồ

Nằm cạnh Quốc lộ 53, cách thị xã Vĩnh Long 9 km về hướng đông - nam, trước đây, nơi đây có một ngã tư sông nằm ở phía đông thị trấn Long Hồ ngày nay vì vậy còn được gọi là ngã tư Long Hồ. Địa danh này gắn với 02 sự kiện lịch sử tiêu biểu:

* Thành lập chi bộ đảng đầu tiên

- Tháng 6/1927, Kỳ hội Nam Kỳ cử đồng chí Nguyễn Văn Côn - Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ hội Nam Kỳ của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, đến Vĩnh Long gây dựng cơ sở.

- Kỳ hội đã vận động đồng chí Nguyên Văn Thiệt, Châu Văn Ký, Nguyễn Văn Đại ở làng Phú Đức, huyện Châu Thành (nay là Long Hồ), Nguyễn Đức, Nguyễn Bình ở tỉnh lỵ Vĩnh Long (nay là thành phố Vĩnh Long).

- Thông qua quá trình hoạt động, kỳ hội đã kết nạp đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Châu Văn Ký, Nguyễn Văn Đại vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tại chùa Minh Sư (nay thuộc phường 2, thành phố Vĩnh Long). Sau khi được kết nạp, 03 hội viên này được Kỳ hội cử lên Sài Gòn dự khóa huấn luyện. Sau khóa huấn luyện Nguyễn Văn Thiệt về hoạt động ở tỉnh lỵ Vĩnh Long và Ngã Tư Long Hồ. Vào đầu năm 1928 Nguyễn Văn Thiệt kết nạp thêm hai hội viên mới là Nguyễn Hữu Đức (Đức Râu) và Nguyễn Trí, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tại Ngã Tư Long Hồ, thường gọi là "Chi bộ Ngã Tư" do Nguyễn Văn Thiệt làm Bí thư. Đây là Chi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên ở tỉnh Vĩnh Long. Vào giữa năm 1928 Chi Hội tiếp nhận thêm 02 hội viên là Nguyễn Văn Nhung từ Campuchia về và Nguyễn Thị Nhỏ từ Bến Tre sang. Như vậy Chi bộ Ngã Tư có 05 thành viên.

- Đến tháng 8/1929, đồng chí Châu Văn Liêm về Ngã Tư Long Hồ tuyển chọn 03 hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng là: Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Hữu Đức và phân công đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm Bí thư. Đây là chi bộ An Nam Cộng sản Đảng đầu tiên ở tỉnh Vĩnh Long.

- Tháng 3 năm 1930, đồng chí Châu Văn Liêm, Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ lâm thời được cử về chỉ đạo tỉnh Vĩnh Long. Đồng chí đã tổ chức hội nghị ở ngã tư Long Hồ để chuyển các chi bộ An Nam Cộng sản đảng ở tỉnh Vĩnh Long thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.

* Đánh Pháp tái xâm lược trên địa bàn Vĩnh Long

Sáng ngày 29/10/1945, Tàu Pháp cặp bến Vĩnh Long và nổ súng tấn công. Các chiến sĩ ta gác ở cầu đánh trả quyết liệt, nhưng hỏa lực yếu nên phải rút lui. Sau đó ta rút về cầu Ông Me rồi sau đó các chiến sĩ ta lui về Ngã Tư Long Hồ lập phòng tuyến bờ Nam Cầu Ngã Tư. Để ngăn chặn bước tiến của Pháp, cộng hòa vệ binh Trà Vinh cử một phân đội chi viện cho Vĩnh Long. Cuộc chiến đấu ở mặt trận Ngã Tư diễn ra ác liệt, sau thời gian kìm chân địch, quân Pháp tập hợp lực lượng mạnh từ tỉnh lỵ Vĩnh Long tiến quân đến chân cầu ngã tư, nhiều lần tìm cách vượt sông nhưng không thành do gặp phải sự chống trả quyết liệt, chúng đã bí mật đổ quân vượt qua cầu Hòa Tịnh đánh vào sườn phải trận địa của ta. Quân ta chiến đấu dũng cảm đánh trả quyết liệt làm tiêu hao lực lượng của địch, tạo điều kiện cho các cơ quan của tỉnh, quận và nhân dân kịp thời sơ tán.

2. Ba Chùa

Nơi thành lập chi bộ đảng đầu tiên của huyện Tam Bình

- Tháng 4/1929, đồng chí Nguyễn Văn Thiệt và đồng chí Nguyễn Văn Côn - cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên từ ngã tư Long Hồ đến nhà ông Võ Văn Kỷ ở Ba Chùa, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình tuyên truyền tôn chỉ, mục đích của Hội. Sau đó thành lập Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đầu tiên ở Tam Bình (tại Ba Chùa, xã Tường Lộc[8]) có 11 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt lãnh đạo. Sau một thời gian thì đồng chí Võ Văn Kỷ lãnh đạo.

- Tháng 4/1930, đồng chí Nguyễn Văn Nhung về Tam Bình hoạt động. Trên cơ sở chi bộ An Nam cộng sản Đảng, đồng chí đã tuyển chọn ra 04 đồng chí để kết nạp vào Đảng và thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Tam Bình do đồng chí Nguyễn Văn Nhung làm Bí thư[9], sau đó phát triển thêm ba đồng chí và đồng chí Võ Văn Kỷ làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Nhung đi hoạt động nơi khác.

- Mùa thu năm 1930, Hội nghị Đặc ủy Hậu Giang tại ấp Ba Chùa, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình (nay là xã Nhơn Bình, huyện Trà Ôn) được triệu tập, Hội nghị thống nhất phân công hoán chuyển đồng chí Nguyễn Văn Thiệt về Cao Lãnh chỉ đạo tỉnh Sa Đéc, đồng chí Ngô Văn Chính thuyên chuyển về chỉ đạo tỉnh Vĩnh Long[10].

Nơi thành lập Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đầu tiên

Ngày 15/2/1931 tức ngày 28 tháng Chạp năm Canh Ngọ (1930), Đại hội thành lập Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long[11]. Ban chấp hành gồm các đồng chí: Ngô Văn Chính (Tám Đồng), Nguyễn Văn Nhung (Tư Nhung), Nguyễn Văn Tiễn, Nguyễn Hữu Thế, Đặng Văn Quang (tức Đặng Quang Minh)...

Đồng chí Ngô Văn Chính, được bầu làm Bí thư đầu tiên của Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long.  

3. La Gì

La Gì - thuộc xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Vào giữa năm 1929, đồng chí Nguyễn Văn Thiệt đến xã Vĩnh Xuân hoạt động. Đến cuối năm 1929, chi bộ An Nam cộng sản Đảng được thành lập tại La Gì (Vĩnh Xuân) gồm 03 đồng chí Nguyễn Văn thiệt, Võ Văn Lự (Vĩnh Xuân), Đinh Công Thành (Cầu Kè), do đồng chí Nguyễn Văn Thiệt làm Bí thư. Đây là chi bộ An Nam Cộng sản đầu tiên ở huyện Trà Ôn và cũng là một trong số 03 chi bộ đầu tiên ở tỉnh Vĩnh Long[12].

4. Ngã ba An Nhơn

Tọa lạc tại khóm 2 thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm giáp quốc lộ 53 là quần thể di tích gồm: Tượng đài đốc binh Lê Cẩn, Nguyễn Giao; Hồ Vũng Linh;  công viên tượng đài Nam Kỳ Khởi Nghĩa; Khu lưu niệm cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt.

- Tượng đài Đốc binh Lê Cẩn - Nguyễn Giao

Tượng đài Đốc binh Lê Cẩn - Nguyễn Giao tọa lạc tại Ngã ba An Nhơn, thị trấn Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, được xây dựng vào năm 2004, khánh thành 2005.

Tượng đài Đốc binh Lê Cẩn - Nguyễn Giao cao 7,5 m (riêng phần đế cao 2,5m) chất liệu bằng đồng, nặng 21,5 tấn theo mẫu tượng đài của nhà điêu khắc Trần Văn Trầm.

Đây là công trình tưởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Lê Cẩn - Nguyễn Giao  và nghĩa quân trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Thực dân Pháp chiếm vùng Đồng bằng sông Cửu Long gặp phải sự chống cự quyết liệt của các nghĩa quân, theo tài liệu của Pháp, nơi nào có người nông dân là có cuộc kháng chiến "cuộc kháng chiến (chỉ nghĩa quân) mạnh mẽ và đáng sợ hơn cuộc chiến tranh chống lại bằng quân đội chính quy của nhà vua" [13] .

Tại huyện Vĩnh Trị (Vũng Liêm), cuộc kháng chiến nổ ra vào cuối tháng 11/1871 do Lê Cẩn, Nguyễn Giao và Mai Đăng Xuân (Phó Mai) lãnh đạo với lý do xin giấy phép đi gặt mướn ở vùng xa. Nghĩa quân bất ngờ tiến công dinh quận giữa ban ngày. Lê Cẩn và các nghĩa quân như "xuất quỷ nhập thần" giết chết tên chủ quận Hồ Thiện Thực cùng 06 tên lính gác, nghĩa quân thu nhiều vũ khí. Trận đánh đã gây tiếng vang đến vùng Láng Thé, Bình Khánh Thượng, Bình Khánh Hạ (huyện Càng Long). Nhân dân ủng hộ tiếp tế lương thực và lực lượng yêu nước tham gia nghĩa quân ngày càng đông. "Nghĩa quân Cầu Vông" làm cho quân địch kinh sợ.

Thừa thắng Lê Cẩn bèn trao đổi với lực lượng chỉ huy, dùng cách "điệu hổ ly sơn" giả hàng để diệt tên chánh tham biện người Pháp. Sau khi thống nhất, Lê Cẩn viết thư xin hàng và yêu cầu chánh tham biện Alix Salicetti phải đến Cầu Vông chứng kiến sự quy hàng[14]

Nguyễn Giao được phân công móc nối với người bà con làm Cai tổng Bình Khánh cùng đến gặp chánh tham biện Alix Salicetti tại tỉnh lỵ Vĩnh Long, định ngày cụ thể là ngày 15/2/1872 tức ngày mùng 3 Tết Nhâm Thân (1872) tổ chức quy thuận.

Khi tên Chánh tham biện từ Vĩnh Long đến Vĩnh Trị, rồi dùng ngựa đến cầu Vông. Hai bên đường tiếng trống, tiếng chiêng, điệu múa lân dồn dập. Tên Alix Salicetti khoát tay cho Tường dừng ngựa lại, hỏi: "Tiếng trống, chiêng chi đó?". Bất ngờ, nhưng theo lệ thường, Tường trả lời: "Chắc là dân mừng quan lớn!". Chánh tham biện đắc ý thúc ngựa đi đầu. Khu vực cầu Vông, dân giương nhiều cờ trắng. Khi chánh tham biện dẫn quân đi tới Cầu Vông thì bị nghĩa quân xung phong đánh giáp lá cà, Đốc binh Lê Cẩn cùng Alix Salicetti vật nhau dưới đất, lăn lộn xuống rạch cầu Vông cả hai cùng chết dưới nước.

Đêm đó, tại cua Mỹ Huê (Càng Long) diễn ra cuộc mít tinh lớn mừng cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Báo chí Pháp sau đó có đánh giá: "Trận cầu Vông là một trận thiệt hại lớn của quân Pháp kể từ sau 5 năm chiếm Vĩnh Long!"[15] .

Ngày 23/2/1872, thực dân Pháp huy động trên 300 quân do Tôn Thọ Tường, chủ quận Vĩnh Trị (Vũng Liêm), Trần Bá Lộc, đốc phủ và Huỳnh Công Tấn tay sai ác ôn của thực dân Pháp chỉ huy, càn quét vào các làng thuộc huyện Vĩnh Trị. Bọn chúng đốt sạch nhà cửa[16], lúa thóc, bắn giết trâu bò, lùng sục bắt dân chúng (cả người già, phụ nữ và trẻ em) đem đến ngã ba An Nhơn (làng Phong Thới) rồi dùng 02 hình thức thảm sát: Một là, bắt trói dân ngồi bên cạnh hồ, rồi dùng súng bắn chết, đạp xuống hồ lấp đất lại. Hai là, đốt lửa trên bãi đất cát, bắt trẻ nhỏ ném vào lửa.

Cuộc thảm sát đã giết chết trên 500 người[17]

Công viên Tượng đài Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Công viên nằm ở ngã ba An Nhơn, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm, có diện diện tích hơn gần 01 ha. Đây là công trình ghi lại bút tích của cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt viết về quê hương ông với nhiều gửi gắm về sự phát triển thanh bình, giàu đẹp.

Công trình xây dựng gồm nhiều hạng mục như: Bia Nam Kỳ Khởi nghĩa[18], các tiểu cảnh cây xanh, đồi cỏ, sân chơi… Bên cạnh là tượng nữ đồng chí Nguyễn Thị Hồng cao 4m, làm bằng đá tự nhiên có xuất xứ từ Ninh Bình. Ngày 23/11/2016, nơi đây Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long đã long trọng tổ chức lễ đặt tượng đồng chí Nguyễn Thị Hồng[19],

5. Cái Ngang

- Cái Ngang hiện nay thuộc xã Phú Lộc, huyện Tam Bình. Năm 1940, ở Cái Ngang cuộc khởi nghĩa Nam kỳ diễn ra rất quyết liệt. Tại đây, lực lượng nghĩa quân có khoảng 100 người do đồng chí Gia (Bí thư chi bộ làng Phú Lộc Cựu) chỉ huy. Vào lúc 12 giờ đêm ngày 22/11/1940, một toán du kích làng Phú Lộc Cựu do đồng chí Nguyễn Văn Tiển (Tám Thới) chỉ huy, đột nhập vào Cái Ngang, đánh chiếm đồn địch, giết tên đồn trưởng, bắt sống một số lính, thu 5 súng (2 súng mút, 3 súng lửa). Quân khởi nghĩa làm chủ tình hình ở đây suốt 17 giờ liền, cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm được tung bay tại doi đình Mỹ Hưng (Mỹ Lộc), doi đình Hậu Lộc đối diện chợ Cái Ngang. Hàng trăm ghe xuồng dọc theo bờ sông, đông đảo quần chúng nhân dân trong buổi chợ reo hò, hoan nghênh cuộc khởi nghĩa do Đảng lãnh đạo đã giành thắng lợi. Nhân dân được các đồng chí tuyên truyền giải thích "thuế thân là của bọn thực dân, từ bây giờ sẽ không dùng đến nữa", "giữ thuế là còn làm nô lệ cho giặc", nhiều người có mang theo giấy thuế thân tự xé bỏ thả trôi trên sông, với niềm lạc quan đã được đổi đời. Họ hồ hởi nói với nhau "thế là cách mạng đã thành công, cuộc đời trâu ngựa từ nay chấm dứt". Tin về đến tỉnh lỵ Vĩnh Long, 9 giờ sáng ngày 23/11/1940, thực dân Pháp đưa một toán lính do tên quan Hai Pháp chỉ huy để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Chiếc tàu chạy gần đến chợ Cái Ngang (ngang đình Phú Lộc Cựu) bị nghĩa quân phục kích dùng súng mới cướp được của đồn Phú Hậu đêm trước bắn vào tàu, tên quan Hai bị thương, số lính còn lại hoảng hốt tháo chạy về tỉnh lỵ.

Đến 12 giờ trưa cùng ngày, bọn tề ngụy địa phương (hội đồng Tượng, cai tổng Lê Văn Tú, Quản Giác) cầm đầu lực lượng tại chỗ (do chúng huy động được) có cả súng lửa, tổ chức phản công lần II. Bọn này cũng bị nghĩa quân đánh cho một trận chạy tán loạn.

Vào lúc 17 giờ, ngày 23/11/1940, thực dân Pháp điều một tàu chở đầy lính từ tỉnh lỵ Vĩnh Long tiến đánh Cái Ngang, mở đợt tấn công thứ ba quyết tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa. Khi tàu địch đến chợ Cái Ngang toàn bộ hỏa lực trên tàu bắn tới tấp vào lực lượng nghĩa quân. Lúc đầu, quân khởi nghĩa đánh trả rất quyết liệt trong vài giờ đồng hồ. Nhưng sau đó lực lượng tổn thất, vũ khí lại rất thô sơ nên không thể cầm cự với địch, phải rút lui về căn cứ Cây Điều, Cái Bần (ấp 5, Phú Lộc Cựu) chỗ gặp nhau giữa rạch Ba Kè, Cái Ngang và Ba Càng, để bảo toàn lực lượng. Tại đây, ban ngày nghĩa quân phục kích đón đánh địch, ban đêm tuyên truyền kêu gọi quần chúng ủng hộ cách mạng. Được sự che chở và nuôi dưỡng của nhân dân địa phương lực lượng duy trì gần 2 tuần lễ (từ 23/11 đến 4/12/1940)[20].

- Năm 1965, sau quá trình nghiên cứu, Tỉnh ủy Vĩnh Long chọn vùng Cái Ngang (Tam Bình) làm căn cứ hoạt động. Quyết định này dựa trên những yếu tố:

+ Một là, Tam Bình có vị trí đặc biệt quan trọng là có hai con đường giao thông chiến lược thủy và bộ của cả miền Tây[21], là cửa chính đi vào thị xã Vĩnh Long, là nơi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ giành thắng lợi lớn. Huyện Tam Bình nối liền với thị xã Vĩnh Long, là bàn đạp tấn công chiến lược vào đầu não của địch ở thị xã. Nhân dân có truyền thống yêu nước, một lòng theo Đảng.

+ Hai là, vùng đất Cái Ngang gồm 3 xã: Mỹ Lộc, Hậu Lộc và Song Phú. Vùng đất này đất đai phì nhiêu, cây cối rậm rạp, sông ngòi chằng chịt. Đặc biệt, vùng này có con sông Cái Ngang nối từ Mỹ Lộc đến quốc lộ số 4 (nay là quốc lộ 1A). Phía đông Cái Ngang giáp lộ Ba Kè, phía tây giáp lộ 16B, phía nam giáp sông Mang Thít, phía bắc giáp huyện Châu Thành (nay là huyện Long Hồ) và vùng ven thị xã Vĩnh Long. Từ Cái Ngang thuận lợi cho ta trong công tác nắm bắt tình hình và chỉ đạo phong trào của toàn tỉnh. Từ Cái Ngang làm bàn đạp tấn công vào thị xã Vĩnh Long. Đây là hướng tấn công quân sự chủ yếu và có ý nghĩa quyết định. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân vùng đất Cái Ngang kiên quyết chống địch tát dân, bám ruộng vườn sản xuất và chiến đấu, đánh bại chương trình bình định tát dân, gom dân của đế quốc Mỹ. Cái Ngang còn là hậu phương đáng tin cậy, dồn sức người, sức của cho phía trước.

Năm 1965, Tỉnh đội Vĩnh Long về vùng đất Cái Ngang cùng với các ngành chức năng hướng dẫn cơ sở quét tai mắt gián điệp, xây dựng nhân tâm, phát động phong trào nhân dân du kích chiến tranh, xây dựng xã ấp chiến đấu, cải tạo địa hình, bắt tay vào xây dựng khu căn cứ Cái Ngang. Từ yếu tố địa lý và chính trị thuận lợi, năm 1966 Tỉnh ủy Vĩnh Long quyết định chọn Cái Ngang làm khu căn cứ.

Năm 1967, Tỉnh ủy Vĩnh Long chuyển hướng về khu căn cứ cách mạng Cái Ngang. Lúc này đế quốc Mỹ đẩy cuộc chiến tranh tại miền Nam Việt Nam lên đỉnh cao. Địch tăng cường hành quân càn quét, ném bom bắn phá vùng giải phóng. Căn cứ cách mạng Cái Ngang lại nằm sát nách đồn Rạch Gỗ và chi khu Cái Ngang vì vậy yếu tố bí mật được đặt lên hàng đầu. Cơ quan Tỉnh ủy lúc đầu chỉ có 01 nhà làm việc và 01 điểm nấu ăn. Nhà được dựng thấp, nằm gọn dưới các tàng cây để tránh máy bay địch phát hiện. Xung quanh nơi làm việc bố trí đầy đủ các hầm trú ẩn tránh bom pháo. Hệ thống hầm bí mật được Ban căn cứ chuẩn bị chu đáo, đủ sức phục vụ các đồng chí trong Ban chấp hành Tỉnh ủy nếu có tình huống xảy ra, khi về đây dự họp.

Ngoài thường trực còn có các bộ phận chuyên môn tại khu căn cứ gồm: Ban căn cứ; Đội phòng thủ; Văn phòng Tỉnh ủy; Điện đài, Cơ yếu; Đội trinh sát kỹ thuật; Ban Giao liên bán khai; Tổ kỹ thuật làm giấy giả.

Với ý nghĩa đó, ngày 01/8/2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số: 2176/QĐ-UB về việc "Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình trùng tu - tôn tạo khu căn cứ cách mạng Cái Ngang tỉnh Vĩnh Long". Theo quyết định này, công trình khôi phục khu di tích có diện tích 5 ha, tổng vốn đầu tư 6,585 tỷ đồng. Công trình gồm hai giai đoạn: giai đoạn I được khởi công vào ngày 23/10/2002 và khánh thành vào ngày 09/08/2003. Giai đoạn II được khởi công vào ngày 18/02/2005 và khánh thành vào ngày 01/04/2006.

Từ khi hoàn thành, cơ sở vật chất đã hoàn thiện, lượng khách đến với di tích ngày càng đông và vào những ngày lễ, tết lượng khách càng tăng cao. Nơi đây cũng là điểm đến của lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên của các trường trong và ngoài tỉnh; nơi sinh hoạt về nguồn, giao lưu, kết nghĩa, trao đổi nghiệp vụ. Có thể nói, di tích căn cứ cách mạng Cái Ngang là nơi tiếp thêm sức mạnh, nâng cao lòng tự hào về truyền thống cách mạng cho mọi người, nhất là tuổi trẻ.

Toàn bộ khu di tích cách mạng Cái Ngang có diện tích 53.880,6m2. Các công trình được bố trí theo dạng chữ U và nằm trong khu vườn cây rậm rạp. Công trình gồm hai phần: công trình tôn tạo và công trình phục dựng.

Công trình tôn tạo: Là các công trình được xây dựng phục vụ cho di tích, được xây dựng năm 2003, giáp với hương lộ và ruộng lúa. Ruộng lúa nằm ở giữa, công trình nằm hai bên. Từ lộ nhìn vào, bên phải mộng lúa gồm: sân, cổng di tích, nhà lễ tân, nhà trưng bày, con đường dẫn vào trung tâm di tích và nhà bia. Bên trái rộng lúa là bãi đậu xe, nhà dịch vụ, nhà chữ đinh (nhà ba gian).

Công trình khôi phục: Là các công trình nằm trong khu vườn cây rậm rạp. Gồm các hạng mục: bãi lửa, cầu chông, chốt bảo vệ, nhà thường trực xây dựng năm 1967, hội trường, ụ máy đèn, nhà thường trực xây năm 1973, nhà ăn, nhà thông tin, nhà quân y, công sự chiến đấu, nhà bảo vệ của đội phòng thủ, hầm bí mật, hố bom, hầm chông, hầm phảng...

Khu căn cứ Cái Ngang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quôc gia (Quyết định số 3744/QĐ-BVHTTDL, ngày 28/10/2016).

6. Cây Da Cửa Hữu

Tại thành phố Vĩnh Long, trên gò đất cao nhất, tại giao lộ 19/8 và đường Hoàng Thái Hiếu có một cây da cao lớn, cành lá sum sê rợp mát, dân gian gọi là cây da cửa hữu. Người dân Vĩnh Long, xưa cũng như nay, luôn giữ gìn cây da bằng tình cảm trân trọng, thiêng liêng, vì đây chính là dấu vết duy nhất còn lại của thành Vĩnh Long xưa.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí và Gia Định Thành Thông Chí vào tháng 2 năm Quí Dậu, đời Gia Long thứ 12 (1813) triều đình Huế lệnh cho quan Khâm mạng Trấn thủ Lưu Phước Tường của Vĩnh Thanh Trấn xây dựng thành Vĩnh Long.

Thành Vĩnh Long xưa tọa lạc tại phường 1, thành phố Vĩnh Long hiện nay. Thành đắp bằng đất, cửa chính hướng Đông - Nam, lưng quay hướng Tây - Bắc. Chu vi thành rộng 750 trượng (một trượng bằng 3 thước), cao 1 trượng dày 2,5 trượng. Quanh thành có hào rộng, sông sâu. Phía tả là sông Long Hồ, phía hữu là rạch Ngư Câu (rạch Cái Cá), mặt sau có sông cổ Chiên (một nhánh là của sông Tiền), mặt trước có đường Cừ Sâu (nay là rạch cầu Lầu). Thành có 5 cửa quay về 5 hướng Đông, Tây, Bắc, Đông - Nam và Tây - Nam. Cửa tiền của thành ở hướng đông, cửa hậu hướng Tây, cửa tả hướng Bắc, cửa hữu hướng Tây - Nam.

Bên ngoài mỗi cửa thành đều có một đoạn thành cong, bao vòng cửa. Bốn góc thành tạo thành hình hoa mai. Trong thành có 02 con đường dọc, 3 đường ngang, 3 công thự, kho lương, nhà thừa ty, trại lính và hành cung. Phía đông thành có quan lộ chạy dọc sông Long Hồ, phía tả là nhà Sứ Quán, phía hữu là chợ Vĩnh Thanh. Riêng góc Nam của thành, chỗ tiếp giáp đường đi và sông Long Hồ, có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu chiến). Thành tuy không rộng nhưng được xây dựng kiên cố, bố phòng chặt chẽ, thuận tiện đường tiến thủ. Nói về tầm quan yếu của thành, sách Gia Định Thành Thông Chí nhận định: "Thật là yếu địa hình thắng vậy".

Đời Minh Mạng thứ 13 (1832), đúng 100 năm thành lập Long Hồ dinh (1732), Vĩnh Thanh Trấn đổi tên thành Vĩnh Long Trấn (sau đổi tiếp thành Vĩnh Long tỉnh - một trong Nam Kỳ lục tỉnh). Do nhiều biến chuyển của lịch sử, địa phận Vĩnh Long về sau thu hẹp nhiều so với khi còn là thủ phủ miền Tây thời Long Hồ dinh. Nhưng thành Vĩnh Long trong suốt quá trình tồn tại luôn là thành trì vững chắc, là trung tâm quân sự - kinh tế - văn hóa cả khu vực miền Tây Nam bộ.

Trong thời kỳ quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, thành Vĩnh Long thất thủ hai lần: năm Nhâm Tuất (1862) và năm Đinh Mão (1867). Sau khi thành Vĩnh Long thất thủ lần thứ hai năm 1867, thực dân Pháp đập phá tất cả các công trình văn hóa, đồn lũy của nhà Nguyễn và san bằng thành Vĩnh Long. Nhưng rất may trước cửa hữu thành Vĩnh Long còn lại một cây da. Nhân dân đã giữ gìn, bảo vệ và dựng miếu thờ để lưu dấu và hoài niệm về thành Vĩnh Long xưa. Vào thập niên 50, cây da của thành Vĩnh Long xưa bị lụi tàn. Sau đó, từ thân cây mẹ, mọc lên cây da con và phát triển tươi tốt cho đến ngày nay.

Trải qua thời gian dài, vì nhiều nguyên nhân, di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2007, tỉnh đã đầu tư trùng tu miếu và dựng bia di tích cổng thành Vĩnh Long. Năm 2008, ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Long (nay là ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Long) đầu tư xây dựng phục dựng lại cổng thành Vĩnh Long.

7. Cù lao Dài

Vào năm Bính Thân (1776), vùng đất Quảng Nam xảy ra giao tranh giữa chúa Nguyễn và quân Tây Sơn liên tiếp diễn ra, dân tình đói khổ. Trong bối cảnh đó, bà Nguyễn Thị Tuyết đưa các con cùng một số gia nhân và các ông Nguyễn Khắc Ánh, Nguyễn Khắc Phổ, Nguyễn Khắc Dụ, Nguyễn Khắc Thận xuống thuyền bầu thẳng tiến vào Hội An, ra Cửa Đại dong buồm thẳng vào Nam. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, thuyền cập vào cù lao Dài (thuộc tỉnh Vĩnh Long). Toàn gia chọn nơi này làm nơi an cư lạc nghiệp, nơi đây trở thành quê hương thứ hai của bốn mẹ con bà Nguyễn Thị Tuyết.

Ngoài gia đình bà Nguyễn Thị Tuyết, gia đình ông Châu Vĩnh Huy cũng chọn cù lao Dài làm nơi định cư[22]

Ông Châu Vĩnh Huy là người có học, sống giản dị, hiền lành, cả làng xem ông như "mạnh thường quân" hay giúp đỡ người "sa cơ lỡ vận", là người được cả làng kính nể. Thấy gia đình bà Nguyễn Thị Tuyết nghèo khó nên ông thương tình giúp đỡ. Nguyễn Văn Thoại sớm được đi học tại trường nhà ông Châu Vĩnh Huy, học ít hiểu nhiều, nói năng chững chạc, vừa học vừa phụ giúp mẹ, hốt cỏ làm ruộng chăm sóc em nhỏ.

Châu Thị Vĩnh Tế là con gái thứ hai của ông Châu Vĩnh Huy và bà Đỗ Thị Toán. Năm 1782, ông Nguyễn Văn Thoại 21 tuổi, bà Châu Thị Vĩnh Tế 16 tuổi, cha mẹ hai bên định kết nghĩa châu trần, song Nguyễn Văn Thoại còn phải phò giá, đi công vụ ở Xiêm. Năm 1788, Nguyễn Văn Thoại kết hôn với bà Châu Thị Vĩnh Tế.

Nguyễn Văn Thoại là bậc khai quốc công thần triều đại nhà Nguyễn, có nhiều công lao trong khai hoang lập ấp, mở mang và giữ gìn biên giới Tây Nam. Những công trình còn lại như lập chợ, đào kênh Long Xuyên - Rạch Giá (được triều đình đặt tên là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn, để biểu dương công trạng), kênh Châu Đốc - Hà Tiên (kênh Vĩnh Tế), xây dựng đường... Nguyễn Văn Thoại lập nhiều công lớn, được phong nhiều chức tước trong đó có tước Ngọc Hầu. Nhiều lần bảo hộ Cao Miên nên gọi là Bảo hộ Thoại. Đánh giặc võ dũng lừng danh, các nước lân bang kính nể không dám gọi tên mà gọi Nguyễn Hầu, Nguyễn Công và khi mất được vua phong tặng Võ Khác.

Bà Châu Thị Vĩnh Tế được đánh giá là người vợ hiền đức, tận tụy đảm đang, đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp của chồng. Trong suốt thời gian chồng làm Trấn thủ, lãnh việc đào kinh, bà luôn là người đồng cam cộng khổ, vất vả cực nhọc giúp sức cùng chồng làm nên đại nghiệp, tận tụy góp sức với chồng trong việc mưu phúc lợi cho dân, tiếng nhân đức truyền xa… Bà vận động các nguồn lực giúp chồng đào kênh Long Xuyên - Rạch Giá, đào kinh Châu Đốc - Hà Tiên. Với công lao người phụ nữ giúp chồng trên đường công bộc, vua Minh Mạng ban đặt tên kinh Châu Đốc - Hà Tiên là Vĩnh Tế Hà, tên núi Sam là Vĩnh Tế Sơn để nhớ công lao người phụ nữ giúp chồng, giúp nước để tiếng về sau.

Cù lao Dài là quê hương thứ hai, cũng là nơi khởi nghiệp của Thoại Ngọc Hầu. Ông đã cùng đồng bào biến vùng đất hoang vu, sình lầy thành nơi trù phú của đất nước. Đi đến đâu ông cũng lập làng, chăm lo cuộc sống của nhân dân. Nguyễn Văn Thoại đã để lại nhiều dấu ấn vàng son trên quê hương đất nước.

Hiện nay ở cù lao Dài còn khu mộ bà Nguyễn Thị Tuyết tọa lạc tại ấp Thái Bình, xã Thanh Bình; Khu mộ ông Châu Vĩnh Huy tọa lạc tại ấp Thanh Lương, xã Thanh Bình, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

8. Thầy Phó

Thầy Phó[23], vùng ruột xung yếu, có vị trí chiến lược về đường bộ và đường sông, giáp ranh hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh và ba huyện Cầu Kè (Trà Vinh), Vũng Liêm và Trà Ôn (Vĩnh Long). Là vùng trù phú, đông dân, nhiều của, có nhiều tiềm lực trong hai cuộc kháng chiến.

Trận thứ 1: Đầu tháng 5/1950, một bộ phận của lực lượng Liên Trung đoàn 109-111 cùng bộ đội tỉnh đánh hàng loạt đồn bót ven sông Hậu thuộc các huyện Tiểu Cần, Cầu Kè và Trà Ôn vừa bao vây, uy hiếp địch ở các đồn bót khác.

Để cứu nguy cho đồng bọn, sáng 7/5/1950 địch cho một tiểu đoàn bộ binh và một chi đội xe lội nước[24] phối hợp với phi pháo yểm trợ, càn quét vào xã Tân An (Càng Long - Trà Vinh) và xã Hựu Thành (Trà Ôn - Vĩnh Long). Ta tìm cách ém quân bí mật, đến 17 giờ 30 phút, quân ta từ Ngã Chánh xuất kích chặn đánh xuyên hông địch tại Thầy Phó (xã Hựu Thành), tiêu diệt 3 xe lội nước đi đầu của địch, số xe lội nước còn lại bung ra đồng, bỏ cả súng, đạn và xác chết, chúng rút chạy về Trà Mẹt (Cầu Kè).

Trận thứ 2: Sau khi Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), tập trung ở huyện lỵ Trà Ôn, quân ta bao vây khống chế đầu não địch, cắt đứt giao thông, cô lập đồn bót địch.

Đêm 18 rạng sáng 19/2/1968, lực lượng một đại đội địa phương quân Trà Ôn phối hợp với du kích xã Hựu Thành bao vây yếu khu Thầy Phó và đồn Nhà Thờ (cách chợ Thầy Phó hơn 01 km). Trước sức bao vây, kêu gọi ra hàng của quân dân ta, binh lính đồn Nhà Thờ hoang mang, trong đêm chạy về yếu khu Thầy Phó, một số lính bị thương hoang mang kêu cấp cứu. Sáng hôm sau 19/2/1968, tiểu khu Vĩnh Long cho trực thăng đổ quân đến giải vây đồng bọn và yểm trợ bọn tàn quân rút chạy. Quân dân xã Hựu Thành san bằng yếu khu Thầy Phó. Đồn Cống Đá (xã Thuận Thới) cách đó trên 4 km, hoang mang rút chạy. Ta giải phóng xã Hựu Thành, xã Thuận Thới, góp phần để huyện Trà Ôn giải phóng hoàn toàn 6 xã trong huyện.

Trận thứ 3: Trong chiến dịch mùa khô năm 1972, với tinh thần quyết tâm "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", đêm 6/4/1972, Tiểu đoàn 306 thuộc Trung đoàn 3 của Quân khu, phối hợp với du kích xã Hiếu Thành (Vũng Liêm), Thạnh Phú (Cầu Kè - Trà Vinh), Hựu Thành (Trà Ôn) tiến công tiêu diệt yếu khu Thầy Phó, gồm ba căn cứ: đồn tứ giác, đồn tam giác, chỉ huy sở và căn cứ đặt pháo. Do điều nghiên chính xác, cuộc chiến đấu diễn ra nhanh gọn, ta làm chủ tình hình. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 360 tên địch, thu trên 200 súng, phá hủy hai khẩu pháo 105 ly. Thu hàng chục ngàn viên đạn. Quân dân ba xã Hựu Thành, Hiếu Thành và Thạnh Phú san bằng đồn, tích cực tham gia chống địch tái chiếm. Đồng chí Phạm Văn Em (Bảy Thới) thuộc Tiểu đoàn 306 chiến đấu xuất sắc được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Trận thứ 4: Sau nhiều lần bị tiến công, địch tập trung xây dựng yếu khu Thầy Phó kiên cố và tăng quân cùng với phương tiện hòng khống chế khu vực trọng yếu thuộc ba huyện của hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Lực lượng địch khoảng 300 tên, gồm căn cứ sở chỉ huy, căn cứ tiểu đoàn bảo an 458, trung đội pháo binh, một chi đội cảnh sát, trung đội phòng vệ. Bọn tề xã, tình báo, bình định cảnh sát chìm nổi túc trực hoạt động.

Đêm 8/1/1975, một bộ phận Trung đoàn 3 nổ súng tiến công vào yếu khu bằng ba mũi, chỉ sau vài phút chiến đấu, quân ta chiếm lĩnh trận địa, làm chủ các mục tiêu chủ chốt. Địch cố thủ trong hầm ngầm chờ quân cứu viện đến giải vây.

Đêm 10/1/1975, sau hai ngày gọi hàng, địch ngoan cố cố thủ, ta dùng mìn đánh hủy diệt căn cứ. Diệt trên 100 tên địch, bắt sống 147 tên, có một thiếu tá, thu hai khẩu pháo 105 ly (chuyển về vùng giải phóng một khẩu, còn một khẩu ta phá hủy tại chỗ), hai khẩu cối 61 ly, 6 đại liên, trên 100 súng trung liên, súng trường, hàng chục ngàn viên đạn. Chiến lợi phẩm súng 105 ly thu được, quân ta phát huy tác dụng bắn vào căn cứ chi khu, yếu khu, tiểu khu gây cho địch nhiều tổn thất.

Trận thứ 5: Với quyết tâm chiến đấu, tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã, mỗi đơn vị hạ quyết tâm thi đua giải phóng sớm nhất địa phương mình. Đêm mùng 10 rạng sáng 11/3/1975, một bộ phận của Trung đoàn 3 chủ lực của Quân khu phối hợp với địa phương quân Trà Ôn tiến công vào yếu khu Thầy Phó, đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an. Quân ta tiếp tục bao vây đánh lấn. Ngày 11/3/1975, tiểu đoàn 467 của địch đến can viện bị lực lượng vũ trang ta chặn đánh tiêu diệt hàng trăm tên địch, đánh thiệt hại tiểu đoàn 467 của địch. Bọn tàn quân ở yếu khu Thầy Phó (xã Hựu Thành) và phân chi khu xã Thuận Thới (Trà Ôn) cách Thầy Phó 4km hốt hoảng rút chạy.

Ta giải phóng hai xã Hựu Thành và Thuận Thới (huyện Trà Ôn) với trên 10 ngàn dân.

Tính chung, địa danh Thầy Phó trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ có 5 trận chiến thắng lớn đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc nói chung, của tỉnh Vĩnh Long nói riêng.

9. Ngã ba Thầy Hạnh

- Nằm trên tuyến sông Măng Thít nối với kinh Xáng Ni-cô-lai đi Trà Ôn, khoảng giữa có vàm sông chi lưu đi thị trấn Cái Ngang. Tại ngã ba giáp ba xã Xuân Hiệp (Trà Ôn), Tường Lộc, Hòa Hiệp (Tam Bình). Tại vùng đất và vàm sông này, dân gian thường gọi là Ngã ba thầy Hạnh hay vùng đất Ngã ba thầy Hạnh vì gắn với nhân vật lịch sử là ông Lê Văn Hạnh. Ông là nhà nho, thầy thuốc, không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết ông gốc từ miền Trung vào lập nghiệp khoảng cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX ở ấp Tường Lễ, xã Tường Lộc, quận Chợ Mới (nay là huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long).

Ông nổi tiếng về hốt thuốc trị bệnh và dạy học trong làng được dân kính trọng.

Ông Lê Văn Hạnh là thân phụ của nhà nho Lê Văn Năng, ông nội vợ của chí sĩ yêu nước phong trào Đông Du Trần Phước Định (xóm Ba Chùa). Ông Định và bà Lăng là con rể và con gái của ông Lê Văn Năng.

Nhà cách mạng, người bí thư chi bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đầu tiên ở tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Văn Thiệt và vợ là bà Trần Minh Nguyệt là con rể và con gái của nhà ái quốc Trần Phước Định.

- Vào năm 1947, quận ủy Tam bình chỉ đạo làm cản ngang sông Mang Thít tại đoạn ngã ba Thầy Hạnh để cắt đường vận chuyển vũ khí, đạn dược của Pháp từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây Nam Bộ và không cho tàu sắt của Pháp từ Vĩnh Long đưa quân vào càn quét, bắn giết đồng bào ở các xã vùng trong của huyện. Quận ủy Tam Bình thành lập Ban chỉ đạo quận gồm có đồng chí: Tám Nguyên - quận đội trưởng làm trưởng ban, các ủy viên gồm đồng chí Dương Bạch Xây, ông Lưu Kim Đính, Bùi Chí Công, Bùi Chí Quân. Ban chỉ đạo xã Tường Lộc có đồng chí Nguyễn Văn Hoàng làm trưởng ban, đồng chí Trầm ủy viên. Ban chỉ đạo đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên.

Quận ủy Tam Bình vận động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, quận Tam Bình ai có gì đắp cản được thì đóng góp, nhiều ghe lớn nhỏ, xuồng, tam bản chở các loại cây do nhân dân đóng góp như: sao, dầu, dừa, tre, đất, đá và hàng ngày có hàng tram nhân công chở đầy đất vào bao, đá vào học, tốp xốc cây, tốp chở đất đá đổ xuống. Với khí thế rất sôi nổi đầy nhiệt quyết, với thời gian ngắn cản được đấp xong.

10. Cống Cây Sao (thuộc xã Song Phú nay thuộc xã Long Phú, huyện Tam Bình).

Được cơ sở nội ô cung cấp tin tức, ngày 16/6/1960, tỉnh trưởng Khưu Văn Ba sẽ xuống khu trù mật để kiểm tra, Đại đội 256 Tiểu đoàn Lý Thường Kiệt triển khai đội hình sử dụng 10 đồng chí vượt lộ 16 ém quân giữa đồng trống (chỉ có một gò tranh nhỏ) khoảng giữa cầu Rạch Rừng và cống Cây Sao, đại bộ phận ở lại bên này kinh xáng làm nhiệm vụ hỗ trợ.

Sáng ngày 16/6/1960, địch đổ một đại đội bảo an rải ra đóng chốt bảo vệ dọc lộ 16 (ở cầu Sập, ngã tư Thợ Ty, cầu Rạch Rừng mỗi nơi một trung đội). 7 giờ 30 sáng, đồng chí Hai Y cơ sở báo tin tên tỉnh phó xuống, ta vẫn nằm im. Đơn vị quyết tâm nếu tỉnh trưởng Khưu Văn Ba không xuống ta sẽ chờ đến tối rút quân và chờ ngày khác. 16 giờ đồng chí Hai Y báo tin tỉnh trưởng xuống. Ta hội ý chờ chúng quay về sẽ sơ hở, ta dễ tiến công hơn. 16 giờ 30 khi xe tên tỉnh trưởng trở về đến cống Cây Sao, ta nổ súng tấn công, xe tên Khưu Văn Ba và xe tùy tùng trúng đạn lật nhào, xe hộ tống hốt hoảng tháo lui. Ta diệt tại chỗ tên Khưu Văn Ba, bắt hai trưởng ty và một chủ sự.

IV. TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT, YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN VĨNH LONG

1. Nhân dân Vĩnh Long chống thiên nhiên khắc nghiệt, dịch bệnh

Vĩnh Long là vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa... mỗi dân tộc mang theo bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình nhưng không có sự khác biệt trong đời sống tinh thần, mà trái lại, có sự hài hòa, bổ sung cho nhau, tạo nên nét văn hóa riêng của vùng đồng bằng, sông nước, làm cho đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư ngày thêm phong phú, đa dạng, được quy định bởi tính cộng đồng đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau thể hiện qua câu ca dao thắm đượm nghĩa tình: "Bầu ơi, thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Có được như vậy là vì trong mỗi tấc đất nơi đây đều thấm mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của các dân tộc cùng sống chung, cùng khai phá và gìn giữ mảnh đất này. Đó là nét văn hóa được lưu truyền từ đời này sang đời khác, được gìn giữ và trở thành truyền thống của nhân dân ta bao đời nay.

Người dân Vĩnh Long cũng như những cư dân Nam Bộ là những người có công khai khẩn đất hoang, trong điều kiện hết sức khắc nghiệt, những người xứ xa mới đến vùng đất mới xa lạ, họ phải quay quần, nương tựa nhau, bảo vệ cho nhau, như con một cha, nhà một nóc, để chống lại thú dữ, thiên tai, dịch bệnh luôn đe dọa cuộc sống của họ; Nguyễn Cư Trinh rất am hiểu nổi thống khổ của người dân đến vùng đất mới hoang sơ tạo lập cuộc sống. Ông viết.

"Thiên gia lưu đáo man di thổ

Thủy đa ngạc ngư lục xá hổ

Tân điền bát túc lạc nhân cầu

Lại ốc huống vi phong ba nô"   

Tạm dịch nghĩa:

"Nghìn nhà nhà đến vùng đất hoang vu

Dưới sông nhiều cá sấu, trên đất lắm rắn hổ

Hoa lợi ruộng đất mới không đủ yêu sách cho bọn nha lại

Nhà đổ còn bị sóng gió".

Họ đến đây là vùng đất hoang vu, đầy lau sậy, rừng rậm, trên rừng còn đầy thú dữ như: cọp, beo, rắn rết; dưới sông đầy thuồng luồng, cá sấu. Mới đến cuộc sống chưa ổn định, nhà cửa dựng tạm sơ sài lại còn bị gió to, sóng lớn. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó, không đoàn kết, không đùm bọc, giúp đỡ, nương tựa vào nhau thì không thể sống được. Tinh thần đoàn kết ấy luôn được củng cố, phát triển. Khi hình thành những làng sông, làng rừng, làng đồng. Đoàn kết để chống lại với thiên tai, với dịch bệnh. Do cuộc sống làm lụng vất vả, trong những điều kiện thiếu vệ sinh "đất thấp ẩm, nhiều mùi, nóng ẩm bốc xông, hay sinh chướng phong, mưa gió nắng gắt, chướng khí dịch bệnh hoành hành, từ Bắc chí Nam làm chết 589.460 người, riêng tỉnh Vĩnh Long có 48.000 người chết. Giám mục Galycarles trong một bức thư gởi về Pháp đề ngày 15/01/1852 viết "Năm 1849 bệnh thổ tả tàn sát dân Nam trong tất cả vương quốc kinh thành và cả vùng phụ cận, chẳng bao lâu phơi bày một cảnh tượng rùng rợn. Ngay từ lúc đầu, xung quanh thành và ở lối vào các làng người ta chỉ nhìn thấy những đám ma nối đuôi nhau, không bao lâu những cổ quan tài hết cả, người ta ném những xác chết vào trong những cái hố được vội vã đào, sau rốt người sống không còn đủ chôn người chết nữa, các tử thi được vứt bỏ lay lóc trong đồng ruộng, trên đường đi, ở những nơi nào mà người ta có thể tống xác chết đi được"[25]. Nhân dân Vĩnh Long, nếu không đoàn kết thì không thể vượt qua được dịch bệnh hoành hoành khủng khiếp ấy.

2. Các phong trào đấu tranh trước khi có Đảng lãnh đạo

2.1. Nhân dân Vĩnh Long đoàn kết chống quân Xiêm xâm lược

Tháng 9 năm Canh Dần (1770) quân xâm lược Xiêm tràn sang trấn Tây Thành (Hà Tiên) phóng hỏa đốt dinh.

Đến tháng 10, quân xâm lược xiêm do Chiêu Khoa Liêm dẫn đầu tràn sang chiếm đất Hà Tiên. Thế giặc mạnh, Mạc Thiên Tứ phải lui quân, quân Xiêm La đuổi theo đến tận Cần Thơ. Được tin cấp báo, Lưu thủ dinh Long Hồ là Tống Phước Hiệp lập tức xuất binh chặn đánh giặc Xiêm, tiêu diệt hơn 300 tên, quân Xiêm thua chạy tan tác. Chiêu Khoa Liêm phải bỏ thuyền lên bờ chạy trốn về Hà Tiên. Quân Xiêm đại bại nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta.

Chúng ngoan cố đóng chốt ở ven sông Hậu (thuộc địa phận huyện Châu Đốc).

Tháng 6 năm Nhâm Thìn (1772), binh sĩ Long Hồ do Tống Phước Hiệp chỉ huy, phối hợp với đạo binh của Chưởng cơ Nguyễn Hữu Đàm đánh đuổi toàn bộ quân Xiêm La về nước[26].

2.2. Các cuộc khởi nghĩa nông dân

Vụ cướp ruộng của nông dân ở Bưng Trường và cuộc nổi dậy của nông dân Nguyễn Văn Xuân ở thôn Hồi Lộc.

Năm 1869, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long được 2 năm, Phủ Trực - Tri huyện Vĩnh Trị (Vũng Liêm) cho khai con rạch Bưng Trường và truyền cho dân lậu ở các làng cứ đến đó mà khẩn đất, sau ba năm thì nộp thuế, lập làng mới giống như thời trước.

Sau đó Phủ Trực xin nghỉ phép thừa cơ hội đó Tổng Dõng ở Mân Thít (Mang Thít) đã lấn ranh qua thôn Bình Thắng phía Đông, lấn 150 mẫu dành cho bà con hắn làm, chiếm của làng Bình Thọ 100 mẫu. Vậy Tổng Dõng đã cướp ruộng của nông dân ở làng Bình Thắng và Bình thọ là 250 mẫu.

Ông Nguyễn Văn Xuân, tên thường gọi Ba Xuân, sinh năm 1897 tại thôn Hồi Lộc, xã Xuân Hiệp, tổng Bình Thới, huyện Tam Bình (nay là xã Xuân hiệp, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long). Gia đình nghèo, phải đi khai hoang nhiều nơi để làm ruộng, khi khai hoang xong thường bị địa chủ cướp đất bằng cách làm bằng khoán hợp pháp (nay gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Người đi khẩn hoang trở thành người không đất, phải làm tá điền cho địa chủ. Lần cuối, Ba Xuân đi khai hoang ở Cái Ngang (Tam Bình) bị Hội đồng Giác (Nguyễn Hữu Giác) cũng với thủ đoạn đó tước đoạt sạch. Ba Xuân trở về quê tiếp tục khẩn hoang lại bị Hội đồng Học (Nguyễn Văn Học) và con rể là Bộ Quản (con Nguyễn Hữu Giác), cướp đất và tăng thuế ruộng. Năm đó (1935), mùa màng không đủ lúa đóng thuế và đóng nợ, buộc Ba Xuân phải vay nặng lãi để đóng đủ nợ cũ và mới (truy nợ) rồi bị đuổi đi nơi khác. Nguyễn Hữu Quản vừa đắc cử Hội đồng tỉnh (hội đồng quản hạt) cấu kết với anh em cột chèo là Cai tổng Lõi (Nguyễn Hữu Lõi) ở huyện Vũng Liêm tăng thuế, tăng nợ. 

Cuộc sống của Ba Xuân đi vào đường cùng, tháng 3/1936 nắm được quy luật Bộ Quản thường đi từ Xuân Hiệp đến Tam Bình bằng ghe hầu, Ba Xuân phục kích đoạn ngã ba Thầy Hạnh vắng vẻ và dùng cột chèo ghe đập chết tên gian ác Bộ Quản (tức Hội đồng Quản) rồi lên tỉnh thú tội.

Khi ra tòa, Ba Xuân đã dõng dạc tố cáo tội ác của địa chủ, cường hào. Tòa xử Ba Xuân 12 năm tù và đày đi Côn Đảo.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Ba Xuân được đưa về quê trị bệnh, nhưng do bệnh nặng, đã mất vào ngày 27/7/1947 lúc 50 tuổi.

2.3. Các phong trào yêu nước chống Pháp

Sau khi ba tỉnh miền Tây lọt vào tay giặc Pháp, phong trào kháng chiến chống Pháp của đồng bào các dân tộc đã dâng lên mạnh mẽ. Từ trước năm 1867, nhân dân Vĩnh Long đã tham gia các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Trương Định, Thiên Hộ Dương,… Đến khi thực dân Pháp chiếm đóng Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên thì hoạt động chống Pháp của nhân dân Vĩnh Long nổi lên ngày càng mạnh mẽ. Trước hết là phản ứng của nhân dân ven thành Vĩnh Long và các vị đốc học ở học xá Vĩnh Long ngay trong ngày 20/6/1867.

Khi thực dân Pháp đem quân chiếm thành, trong khi quân triều đình án binh bất động, một số vị đốc học đang tổ chức kỳ thi Hương đã phẫn uất bỏ thành, xuống thuyền đi Châu Đốc để hoạt động, nhưng bị giặc Pháp truy đuổi, một số sĩ phu quyết không chung sống với Pháp, bỏ đi bằng đường biển ra Bình Thuận tổ chức Đồng Châu Xã và gây dựng căn cứ Tánh Linh ở Trung Kỳ, tiếp tục chống Pháp, trong đó có Đốc học Nguyễn Thông. Khá đông sĩ phu còn ở lại đã tham gia phong trào nổi dậy chống thực dân Pháp của nhân dân lục tỉnh[27].

Từ cuối năm 1867, đồng bào và sĩ phu ở Vĩnh Long đã đứng lên tham gia các cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra trên địa bàn các tỉnh miền Tây Nam Kỳ như:

- Khởi nghĩa do Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo, nổ ra ở vùng Hoằng Trị (Bến Tre ngày nay) vào tháng 8/1867, lan rộng khắp vùng Định Tường, Vĩnh Long.

- Khởi nghĩa do lãnh tụ Chương lãnh đạo, nổ ra ở vùng Sóc Trăng vào tháng 8/1867, lan rộng khắp vùng Ba Thắc, Trà Ôn.

- Khởi nghĩa Long Điền - Cầu Ngang của Nguyễn Xuân Phụng nổ ra ở vùng Trà Vinh, lan rộng đến Vĩnh Trị nay là Vũng Liêm vào tháng 8/1867.

- Khởi nghĩa Hương Điền - Trà Ôn do Phó soái An chi huy, diễn ra từ tháng 10 đến cuối năm 1867, lan rộng đến nhiều địa bàn thuộc ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Nghĩa quân đã cử người ra liên lạc với các sĩ phu ở Bình Thuận để mua sắm vũ khí mang về đánh Pháp, v.v..

- Khởi nghĩa Ba Động (nay là Trà Vinh) nổ ra từ tháng 6/1868, do Tán Lý, Lê Tấn Kế, Đề đốc Triệu và Đốc binh Say lãnh đạo.

       - Khởi nghĩa do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo vào tháng 6/1868, ở Rạch Giá, Hà Tiên.

        - Khởi nghĩa do Lê Công Thành, Lâm Lễ, Âu Dương Lân lãnh đạo vào mùa thu năm 1872 trên địa bàn Vĩnh Long, An Giang.

- Cuộc khởi nghĩa lớn nhất trên đất Vĩnh Long vào giai đoạn này là cuộc khởi nghĩa do Đốc binh Lê Cẩn, Nguyễn Giao và Phó Mai lãnh đạo. Khởi nghĩa bùng nổ vào những năm 1870, khởi đầu tại Vĩnh Trị (nay là huyện Vũng Liêm) sau đó lan tỏa ra một vùng rộng lớn và có ảnh hưởng đến nhiều cuộc khởi nghĩa tiếp sau. Nghĩa quân đã tấn công vào dinh quận, giết chết quận trưởng Hồ Thiện Thực và dùng kế giả hàng giết chết chánh tham biện Alix Salicetti. Dù lãnh tụ Lê Cẩn mất nhưng nghĩa quân tiếp tục tiến công vào khu vực Trà Vinh và làm chủ vùng này trong một thời gian dài.

3. Nhân dân Vĩnh Long đoàn kết đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, nhân dân, nhất là nông dân và người lao động, đã nhanh chóng giác ngộ cách mạng. Các chi bộ Đảng tập hợp nông dân vào các hội như: Hội Tương tế, Nông Hội đỏ..., vận động và xây dựng khối công - nông liên minh, tạo thành sức mạnh đấu tranh chống bọn thực dân, phong kiến; cùng với nhân dân Nam Bộ tiến hành cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) và cùng với nhân dân cả nước thực hiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; sau đó tiếp tục cùng với nhân dân miền Nam đấu tranh đòi đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành Hiệp định Giơnevơ; tiến hành "Đồng khởi" (14/9/1960); tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Đó là thắng lợi của sự kết tinh giữa tinh thần yêu nước nồng nàn, sự hy sinh cao cả của nhân dân với đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và cũng với tinh thần yêu nước, sự lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân ta nói chung, nhân dân Vĩnh Long nói riêng, chúng ta đã và đang thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

 


[1] Thời Pháp thuộc có tên là quốc lộ 16; thời đế quốc Mỹ xâm lược có tên là quốc lộ 4.

[2] Năm 2010 trên 02 sông này đã được bắc cầu thay thế hai bến phà Mỹ Thuận và Cần Thơ.

[3] Ngày này vào mùa khô xuất hiện tình trạng xâm nhập mặn ở một số địa phương trong tỉnh.

[4] Toàn tỉnh có khoảng 10.384 km kênh mương, sông rạch; khoảng 135 km2 mặt nước.

[5] Có các xã: An Bình, Hòa Ninh, Bình Hòa Phước, Đồng Phú thuộc huyện Long Hồ.

[6] Có các xã: Quới Thiện, Thanh Bình thuộc huyện Vũng Liêm.

[7] Có các xã: Lục Sĩ Thành, Phú Thành thuộc huyện Trà Ôn.

[8] Nay thuộc xã Nhơn Bình, huyện Trà Ôn.

[9] Chi bộ Ba Chùa đầu tiên có 5 đảng viên gồm: Nguyễn Văn Nhung, Võ Văn Kỷ, Trần Văn Vững, Trần Thị Sen, Nguyễn Văn Giáo (Năm Giáo).

[10] Lý do là đồng chí Ngô Văn Chính vừa qua chỉ đạo đốt đuốc biểu tình ở Cao Lãnh đêm 1-8-1930 bị địch đàn áp bắn gãy chân, được dân bí mật đưa đi trị lành bệnh, nhưng đã bị lộ, địch đang truy nã; đồng chí Nguyễn Văn Thiệt chỉ đạo các cuộc biểu tình liên tiếp trong tháng 4, 5 và 6, nhất là cuộc biểu tình võ trang tại Văn Thánh Miếu đã bị lộ, địch theo dõi gắt gao, thế hợp pháp không còn.

[11] Tại nhà bà Lê Thị Giêng ở ấp Ba Chùa, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình (nay là xã Nhơn Bình, huyện Trà Ôn).

[12] Tháng 3-1930 đồng chí Châu Văn Liêm - Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ lâm thời được cử về chỉ đạo Vĩnh Long. Đồng chí tổ chức hội nghị tại ngã tư Long Hồ. Tại hội nghị này, các chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở Vĩnh Long được chuyển thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở La Gì (Vĩnh Xuân), Ba Chùa (Tường Lộc) sau đó cũng chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. 

[13] Les premières nesees de la Cochinchine T. I.Tr.162.

[14] "Kính trình quan lớn Tham biện tỉnh Vĩnh Long!

Bấy lâu nay vì ông Chủ quận Hồ Thiện Thực tham tàn hà hiếp dân chúng nên buộc tôi và dân chúng phải chống lại. Còn quan lớn tham biện (tỉnh trưởng) vốn là nhân tài thương dân lại được chủ quận Tường mở lối. Đang lúc binh ít, thế cô, đói khát, chúng tôi nguyện quy thuận nhà nước Lang Sa với điều kiện có quan lớn đích thân đến chứng kiến tại cầu Vông để chúng tôi yên dạ.

Đốc binh Lê cẩn (ký tên)

[15] Lé premièré aunées de la Cochínchine- Paul Vial Paris 1874. T.70-141.

[16] Dân gian lưu truyền do thực dân Pháp giết oan dân vô tội nên đêm đêm ở hồ này vang lên những tiếng kêu oan, than khóc.

[17] - Và năm đó, khi mùa mưa khởi đầu, binh lính mã tà bị dịch bệnh chết hàng loạt. Người dân cho rằng bọn Pháp và tay sai gian ác nên bị oan hồn linh thiêng quở phạt mới chết "bất đắc kỳ tử", "trúng gió không phương cứu chữa".

    - Từ đó, mỗi khi đi ngang qua hồ "Vũng Linh" bọn lính sợ hãi, van vái. Hằng năm, dân đến hồ Vũng Linh đốt nhang, tưởng nhớ những người chết và tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra.

    - Bia di tích Hồ vũng Linh ghi: "Ngày 23/2/1871, sau cuộc khởi nghĩa của Lê Cẩn và Nguyễn Giao tiêu diệt tên tham biện Alix Salicetti tại Cầu Vông, giặc Pháp đàn áp dã man dân làng Trung Trạch. Chúng đốt sạch, giết sạch, thảm sát hơn 500 người lấp xuống đáy hồ. Tên hồ Vũng Linh (hồ linh thiêng) bắt nguồn từ đây"[17].

[18] Nổi bật nhất là văn bia chính được khắc trên một khối đá cao 6,5m, dày 1,2m, chỗ rộng nhất 2,2m, nặng 28 tấn đặt trên một đỉnh đồi nhân tạo cao 6m tính từ mặt đất.

* Nội dung bia Nam Kỳ Khởi nghĩa

Đất Vũng Liêm được khai phá lâu đời, vốn thuộc Dinh Long Hồ xưa do chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú lập thành đơn vị hành chính vào năm Nhâm Tý 1732.

Người Vũng Liêm đồng cam cộng khổ từ lâu đời, đã trải qua chặng đường thế kỷ, hy sinh xương máu trong hành trình mở đất, giữ đất và vun đắp cuộc sống.

Lịch sử Vũng Liêm gắn liền với lịch sử hào hùng của cả vùng "địa linh nhân kiệt" Vĩnh Long nói riêng, đồng bằng Nam bộ nói chung, góp phần làm nên những trang sử vàng của toàn dân tộc.

Trên mảnh đất này in đậm công lao của lớp anh hùng, liệt sĩ kiên cường đánh giặc ngoại xâm, từ những cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp, qua cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940, tổng khởi tháng 8 năm 1945, cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, hoàn thành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…

Chúng ta tin chắc rằng, người Vũng Liêm tự hào về truyền thống vinh quang, càng chung sức, chung lòng xây dựng quê hương mình mãi mãi thanh bình và giàu đẹp. (Võ Văn Kiệt).

[19] còn có tên thật là Hà Thị Lan, tên thường gọi Năm Hồng; sinh năm 1915 tại xã Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Đêm 22 rạng Ngày 23/11/1940, đồng chí Nguyễn Thị Hồng - Tỉnh ủy viên, Bí thư Quận ủy Vũng Liêm trực tiếp lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ ở Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, đánh chiếm quận lỵ, đốt dinh quận, trại lính, nhà bưu điện và làm chủ quận Vũng Liêm suốt 08 giờ liền. Trước khí thế sôi sục của lực lượng cách mạng, bọn địch hoảng sợ bỏ trốn. Quân khởi nghĩa đã mở cửa nhà giam, giải thoát cho 45 cán bộ đảng viên và đồng bào bị địch giam giữ, làm chủ toàn bộ tình hình, treo lá cờ cách mạng đầu tiên bay phấp phới trước dinh quận Vũng Liêm. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã tạo tiếng vang và ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng các nơi trong tỉnh lúc bấy giờ và cả sau này.

 

[20] Báo cáo số 225-C6 ngày 12/12/1940 của chủ tỉnh Vĩnh Long E.Pommer cho Thống đốc Nam Kỳ. ASiA 45/222 (2a, TTLTQC2 Tp. HCM).

[21] Sông Mang Thít và Quốc lộ 4 (nay là Quốc lộ 1A)

[22] Mùa hạ năm 1777, đoàn quân của Chúa Nguyễn đến Trường Châu (cù lao Dài) đã thấy có trên 30 đinh (gia đình) đang sinh sống tại đây. Năm kiến họ có đông đinh hơn hết là Nguyễn - Huỳnh - Trần - Châu - Võ.

[23] Thầy phó: Tên Nguyễn Hữu Tình (1890-1943), người có công lập chợ và mở đường sá, được dân nhớ ơn. Ông làm thầy thuốc, thầy giáo và Phó cai tổng Thành Trị (Trà Ôn).

[24] Lịch sử lực lượng võ trang tỉnh Vĩnh Long, tập 1, tr. 122-123.

[25] Quốc sử quán Triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, sđd, tr.149.

[26] Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long: Lịch sử tỉnh Vĩnh Long, Sđd, tr.44.

​​[27] Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính: Lịch sử Việt Nam 1859-cuối thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1976, Q.3, T.1, P.1, Tr.93.​